Chương 1. Cơ sở lý luận của chế định thừa kế Chương 2. Thực trạng pháp luật về thừa kế ở Việt Nam Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ 1.
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm Pháp luật về thừa kế Theo pháp luật dân sự Việt Nam, Thừa kế chính là việc chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế. Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế, có mầm mống và xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người. Ở thời kỳ này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục, tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định.
Nghiên cứu về thừa kế, Ph.Ăngghen viết: Theo chế độ mẫu quyền nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ [50, tr. Như vậy, thời kỳ đầu của xã hội loài người, việc thừa kế được hình thành theo tập quán của Thị tộc. Thừa kế được phát sinh dựa trên quan hệ huyết thống theo dòng máu của người mẹ.
Khi người mẹ chết đi thì di sản được chuyển cho những người thân thích trong thị tộc. Sự thừa kế tài sản trong thị tộc, bộ lạc theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của việc thừa kế tài sản theo huyết thống. Quá trình phát triển của xã hội loài người đã dần làm thay đổi địa vị 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của người đàn ông trong xã hội. Người đàn ông đã tạo ra được nhiều của cải hơn, không những đủ nuôi sống gia đình mà còn dư thừa, nhờ đó địa vị của người đàn ông trong gia đình và thị tộc, bộ lạc dần được thiết lập.
Khi người đàn ông đã chiếm vị trí chủ đạo của đời sống xã hội thì chế độ mẫu hệ mờ nhạt dần và được thay thế bằng chế độ phụ hệ. Các con trong gia đình có huyết thống với người cha mang họ của cha và được thừa kế tài sản của cha. Như vậy, tương ứng với mỗi giai đoạn lịch sử phát triển nhất định là sự phát triển của lực lượng sản xuất, hình thức gia đình,. sự thay đổi quan hệ sở hữu và theo đó việc thừa kế tài sản cũng thay đổi.
Ngay từ khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và thừa kế đã xuất hiện như một yếu tố khách quan và nó thuộc về phạm trù kinh tế. Thừa kế xuất hiện dựa trên chế độ sở hữu. Sở hữu và thừa kế có mối quan hệ vô cùng mật thiết, nếu yếu tố sở hữu là tiền đề phát sinh thừa kế thì thừa kế chính là phương tiện duy trì, củng cố quan hệ sở hữu. Theo tiến trình phát triển của xã hội, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, năng suất lao động ngày càng được nâng cao, của cải xã hội ngày càng được làm ra nhiều hơn, không chỉ đảm bảo cho sinh hoạt gia đình và cộng đồng thị tộc, bộ lạc mà còn dư thừa sản phẩm.
Từ khi có của cải dư thừa, những người có quyền hành trong thị tộc, bộ lạc đã lợi dụng địa vị của mình để chiếm hữu số của cải dư thừa đó làm của riêng. Chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội nguyên thuỷ bắt đầu tan rã và nhường chỗ cho một chế độ xã hội mới trong đó đã có sự phân hoá giai cấp. Khi giai cấp đã xuất hiện trong xã hội, các giai cấp có quyền lợi đối lập nhau (giai cấp thống trị và giai cấp bị trị), sự đối kháng giai cấp là điều tất yếu. Các giai cấp luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình.
Tổ chức thị tộc trở nên bất lực trước yêu cầu giải quyết mâu thuẫn xã hội, lúc này "xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức để 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy hoặc cùng lắm là để cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp. Tổ chức đó là nhà nước và nhà nước đã xuất hiện" [15, tr. Thừa kế được hình thành từ khi xã hội chưa phân chia giai cấp, nhưng khái niệm pháp luật về thừa kế chỉ ra đời và tồn tại trong những xã hội đã phân chia giai cấp và có nhà nước. Mỗi xã hội khác nhau thì quy định về thừa kế cũng khác nhau.
Thậm chí, trong cùng một chế độ xã hội của một nhà nước, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, để cho phù hợp với sự phát triển của xã hội thì pháp luật về thừa kế cũng được quy định khác nhau. Như vậy, Thừa kế là một phạm trù pháp luật khả biến. Tùy thuộc vào sự phát triển của xã hội mà Thừa kế có những quy định khác nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ thừa kế. Pháp luật của Nhà nước ta bảo vệ lợi ích cơ bản của mỗi người lao động trên cơ sở bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội, góp phần xóa bỏ những tàn tích của chế độ thừa kế do xã hội thực dân phong kiến để lại.
Tạo môi trường pháp lý thuận lợi, làm cho nhân dân lao động yên tâm lao động sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Đặc điểm Pháp luật thừa kế Việt Nam Căn cứ vào những qui định của pháp luật về thừa kế Việt Nam từ Thông tư số 81 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế, Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực thi hành, luật thừa kế Việt Nam có những đặc điểm sau đây: Đặc điểm thứ nhất, thừa kế theo pháp luật Việt Nam là chuyển dịch di sản thừa kế và quyền sở hữu di sản được thừa kế cho chủ thể có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật (Riêng đất đai là chuyển dịch quyền sử dụng). Như vậy, thừa kế là căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế mà người thừa kế được hưởng [84, phần 4]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc điểm thứ hai, căn cứ vào qui định tại Điều 676 Bộ luật dân sự, các hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam được xác định theo quan hệ huyết thống và trong hàng thừa kế thứ hai và thứ ba, các cháu nội, cháu ngoại, chắt nội, chắt ngoại của người để lại di sản được xác định là những người thừa kế theo hàng nhận di sản của ông, bà nội, ngoại, các cụ nội, ngoại.
Đây là một qui định rất đặc thù, bởi vì cháu, chắt của người để lại di sản đã là những người thừa kế thế vị theo qui định tại điều 677 rồi. Lợi ích của cháu, của chắt nội, ngoại của người để lại di sản được bảo đảm thực hiện theo những qui định tại các Điều 676 và 677 Bộ luật dân sự [84, phần 4]. Đặc điểm thứ ba, pháp luật thừa kế Việt Nam quan tâm đến phong tục phổ biến trong nhân dân và bảo đảm cho phong tục tốt đẹp đó được thực hiện theo qui định của pháp luật. Pháp luật thừa kế Việt Nam qui định về người lập di chúc có quyền để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng theo qui định tại Điều 670.
Đây là một qui định mang tính kế thừa các luật Cổ Việt Nam, nhưng được qui định rộng rãi và có thể áp dụng một cách linh hoạt hơn những qui định về di sản thờ cúng trong các đạo luật của các thời kỳ trước đây [84, phần 4]. NHỮNG NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM Nguyên tắc PLVTK là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện PLVTK. Từ khi hình thành đến nay, những nguyên tắc PLVTK ở nước ta có sự thay đổi phù hợp với bản chất của nhà nước ở từng giai đoạn lịch sử. Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam được áp dụng chung cho hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Những nguyên tắc này xuất hiện trong các văn bản pháp luật đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Dựa trên Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh số 97-SL ngày 22.1950 đã qui định những nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ: “đàn bà ngang quyền 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với đàn ông về mọi phương diện” [48, Điều 5]. Nguyên tắc này được coi như một định hướng chủ đạo trong việc xây dựng các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ thừa kế tài sản nói riêng trong các văn bản pháp luật sau này. Những nguyên tắc pháp luật thừa kế đã thể hiện rõ bản chất và những đặc trưng pháp luật về thừa kế ở nước ta, có thể nói, từ năm 1945 đến nay về cơ bản những nguyên tắc đó không thay đổi.
Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam có những nguyên tắc cơ bản sau đây: 1. Nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được nhà nước bảo vệ. Gắn liền với các bản Hiến pháp, quyền thừa kế cũng như các quyền khác của công dân được qui định khá cụ thể. Tuy Hiến pháp năm 1946 chưa quy định rõ ràng về quyền thừa kế, nhưng quyền tư hữu về tài sản được thừa nhận.
Tại Điều 12 Hiến pháp năm 1946 quy định “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo hộ” [54, Điều 12]. Hiến pháp 1959 Nhà nước ta đã quy định rõ ràng hơn về quyền thừa kế.