Chương 1 TỪ HÌNH ẢNH KỸ NỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI ĐẾN NHÂN VẬT GÁI ĐIẾM TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX 1. Hình ảnh kỹ nữ trong văn học trung đại Việt Nam Văn học trung đại phản ánh chân thực xã hội phong kiến Việt Nam. Đây là một thời kì đầy biến động mà qua văn chương ta có thể thấy được bối cảnh lịch sử thời ấy. Từ vận mệnh đất nước, dân tộc đến những nỗi niềm của người dân trong cuộc sống hằng ngày đều được phản ánh trong văn học.
Trong đó, có cả chất hào sảng của hào khí Đông A trong thời Lý Trần với tinh thần quyết chiến, quyết thắng chống lại kẻ thù của dân tộc, có cả tiếng nói đau thương, bi ai, thống thiết cho số kiếp của những con người “thấp cổ bé họng” trong xã hội thế kỉ XVIII – XIX. Hiện thực được phản ánh chủ yếu trong tác phẩm chính là những mặt trái của xã hội. Đó là Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ với bộ mặt xấu xa, vô nhân đạo của xã hội phong kiến dưới chế độ nam quyền, là sự rối ren, chiến tranh phong kiến phi nghĩa gây ra bao bất hạnh cho con người. Đó là Vũ trung tùy bút của Phạm Hổ phản ánh cuộc sống xa hoa của tầng lớp vua chúa, sự nhũng nhiễu của bọn quan lại Lê - Trịnh.
Đó là Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái tái hiện sự hỗn loạn của xã hội phong kiến thông qua số phận bi thảm, bộ mặt hèn nhát của lũ vua quan bán nước, hại dân. Chất nhân văn luôn thấm đẫm từng trang viết trong các tác phẩm văn chương. Bởi vậy, cất tiếng nói để ca ngợi, để thông cảm với con người là nội dung ta dễ dàng nhận thấy trong văn học trung đại. Đặc biệt là số phận người phụ nữ - những con người luôn phải chịu thiệt thòi, bất hạnh.
Đó là số phận oan trái, bi kịch của Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Đó là số phận chìm nổi của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã rất nhiều lần nói về sự bất hạnh của những con người tài sắc: “Rằng hồng nhan tự thuở xưa/ Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu?”; “Phận sao bạc chẳng vừa thôi/ Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan”; 7 “Đầu xanh có tội tình gì/ Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi”. Đúng là “hồng nhan bạc phận”, “hồng nhan đa truân”.
Người đẹp, đặc biệt là người tài sắc hay gánh chịu một số phận gian nan: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Đất nước ta phải chịu hàng ngàn năm Bắc thuộc, bởi vậy có sự giao thoa về văn hóa rất gần gũi với Trung Hoa. Nét văn hóa mà ta chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất đó là đạo Nho của Khổng Tử. Đạo Nho của Khổng Tử là một tôn giáo đã trói buộc con người vào khuôn mẫu, vào những phép tắc lễ nghĩa.
Những trói buộc đó tác động rất lớn đến cuộc sống của những người phụ nữ. “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Thân phận người phụ nữ phải chịu bao đắng cay, nhục nhã, ê chề. Họ hoàn toàn phụ thuộc, lệ thuộc vào người đàn ông.
Ca dao đã từng cất lên lời than thân, trách phận ngậm ngùi, chua xót: “Thân em như hạt mưa sa/ Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày”; “Thân em như tấm lụa đào/ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”. Với những người có tài sắc thì tài sắc càng là mối tai họa hơn. Họ thường bất hạnh vì chính tài sắc của mình. Họ trở thành nạn nhân của vua chúa, quan lại, địa chủ, cường hào.
Họ hoàn toàn không chủ động được cuộc sống của mình, không có quyền lựa chọn riêng cho mình cách sống, cách ứng xử, thậm chí là làm chủ thân xác và tâm hồn mình. Họ bị tuyển mộ, dâng nạp, gả bán cho quan lại, vua chúa, cường hào, địa chủ để rồi trở thành công cụ thỏa mãn nhục dục của tầng lớp trên. Khi sắc đẹp phai tàn, số phận của họ trở nên thật bi đát. Bên cạnh là công cụ mua vui, người tài sắc còn là một phương tiện để tầng lớp thống trị thực hiện những mưu đồ chính trị.
Đau đớn thay, khi cần thì tầng lớp thống trị dùng sắc đẹp của người phụ nữ vào việc tranh giành quyền lực, còn khi thực hiện thành công mưu đồ thì có thể họ sẽ kết thúc cuộc đời của các mỹ nhân một cách tàn ác, không thương tiếc. Rõ ràng, xã hội nam quyền với sự lạm dụng vô hạn quyền lực của nam giới đối với người phụ nữ đã gây ra bao thảm cảnh. Hiện thực ấy đã giúp rất nhiều tác giả tái hiện lại bức tranh xã hội phong kiến Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt làm nên giá trị hiện thực - một trong những phương diện tư tưởng quan trọng của tác phẩm. Thông qua hiện thực ấy, các tác giả đã lên 8 tiếng tố cáo đanh thép xã hội phong kiến, thể hiện sự bất bình cao độ, đặc biệt là cất lên tiếng nói đồng cảm, xót xa, bênh vực và bảo vệ con người.
Điểm qua một vài nét về không gian văn hóa xã hội Việt Nam trung đại để có cái nhìn bao quát về sự xuất hiện và tồn tại của hình ảnh người kỹ nữ trong văn học giai đoạn này. Theo Từ điển Hán Việt của Nguyễn Tôn Nhan, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2003, thì từ kỹ nữ có các nét nghĩa sau: Chữ “kỹ” (nhân + chi): Có nghề, có tài năng; Nữ nhạc công, con hát Thời cổ [32, tr. Chữ “kỹ” (nữ + chi): Gái đẹp; Người phụ nữ làm nghề ca hát; Tục gọi gái đĩ [32, tr. Chữ “kỹ” (thủ + chi): Tài năng, có nghề; Thợ giỏi [32, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa Thể thao, 2005, trang 1095 thì kỹ nữ là người con gái đẹp, đào hát, gái làm nghề mại dâm. Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, trang 980 thì kỹ nữ là người con gái làm nghề ca hát và mại dâm trong chế độ cũ. Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 2002, trang 638 thì kỹ nữ là gái hành nghề tại các thanh lâu, kỹ viện. Như vậy, chúng ta thấy một điều rằng kỹ nữ ban đầu không phải là loại phụ nữ làm nghề bán thân mà vốn là những người hát, ca múa, mang tính chất nghệ thuật.
Qua thời gian, càng về sau, cách hiểu về từ kỹ nữ càng xa so với ý nghĩa ban đầu của nó. So với ý nghĩa ban đầu thì càng về sau, khái niệm kỹ nữ càng gần với việc bán dâm. Thái Thuận đã diễn tả tâm trạng của kỹ nữ khi xế chiều: “Hao mòn niên thiếu thưở ăn chơi/ Trang điểm hồng nhan khó đẹp người/ Hoa rụng trước đình gương biếng ngắm/ Trăng soi hồ nhớ hái sen chơi/ Lầu son gái trẻ vui mà thẹn/ Gác tía thuyền quyên nhớ một thời/ Chiếc gối du tiên khơi trí tưởng/ Cùng ra ngủ giấc chia đôi. Bài thơ là sự nuối tiếc đến khắc khoải của 9 người ca kĩ khi đến tuổi xế chiều.
Đây có thể coi là một trong những tác phẩm văn học đầu tiên có hình ảnh của người kỹ nữ của văn học trung đại. Đến thế kỉ XVI, giai cấp phong kiến suy tàn, đời sống nhân dân rơi vào cảnh lầm than, cơ cực. Thơ văn đã cất lên tiếng nói phê phán bè lũ thống trị, cảm thông với những số phận “thấp cổ bé họng” trong xã hội. Hình ảnh những con người với cuộc sống cùng cực đã trở thành hình tượng trung tâm trong những sáng tác.
Đặc biệt, một trong những hình ảnh gợi lên nhiều nỗi thương tâm, suy nghĩ, trăn trở nhất là số phận của những người phụ nữ. Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là tác phẩm tạo tiền đề cho việc xuất hiện phổ biến hơn hình ảnh người kỹ nữ trong thơ văn trung đại. Các truyện Chuyện nghiệp oan của Đào Thị và Chuyện nàng Túy Tiêu là những truyện có xuất hiện hình ảnh nhân vật nữ có những biểu hiện đặc trưng của người làm nghề kỹ nữ. Thế kỷ XVIII, người kỹ nữ đã xuất hiện hàng loạt trong những sáng tác mà tiêu biểu hơn cả là những sáng tác của Nguyễn Du như Long Thành cầm giả ca (trích trong Bắc hành tạp lục), La Thành mại ca giả (trích trong Thanh Hiên thi tập), Ngộ gia đệ cựu ca cơ (trích trong Bắc hành tạp lục), Văn chiêu hồn, Truyện Kiều.
Với những tác phẩm trên, những nhân vật kỹ nữ tiêu biểu đó là Thúy Kiều trong Truyện Kiều, cô Cầm trong Long Thành cầm giả ca, người ca nữ đất La Thành trong La Thành mại ca giả. Tất cả những người kỹ nữ trên đều có chung một điểm, đó là “hồng nhan bạc mệnh”. Khi nghệ thuật hát ca trù ra đời, người kỹ nữ xuất hiện với tên gọi khác là cô đầu. Một số tác phẩm của các tác giả giai đoạn này có sự xuất hiện hình ảnh cô đầu: Dương Khuê có các tác phẩm: Gặp đào Hồng đào Tuyết, Gặp cô đầu cũ, Tặng cô đầu Hai, Tặng cô đầu Cúc, Thăm cô đầu ốm; Nguyễn Công Trứ có các tác phẩm: Một ngày là nghĩa, Cảnh biệt ly, Yêu hoa, Bỡn cô đầu già; Trần Tế Xương có các tác phẩm: Hát cô đầu, Thú cô đầu, Tết cô đầu, Chơi ả đào, Hỏi ông trời; Nguyễn Khuyến có các tác phẩm: Đĩ cầu Nôm, Bóng đè cô đầu.
Cô đầu trong văn học trung đại được miêu tả theo hai chiều hướng: cô đầu là truyền nhân của nghệ thuật và cô đầu đã bị biến tướng cùng thời gian. 10 Như vậy, ở mỗi giai đoạn, hình ảnh người kỹ nữ mang những nét màu sắc khác nhau. Giai đoạn đầu của thời trung đại, người kỹ nữ được nhắc đến với tư cách là tên gọi của một hạng người trong xã hội. Đến khi xã hội suy tàn, người kỹ nữ tiêu biểu cho tiếng nói thống thiết của thân phận con người.
Khi nghệ thuật hát ca trù ra đời, người kỹ nữ xuất hiện với tên gọi là cô đầu. Dù ở giai đoạn nào thì họ đều là những “thân sâu, cánh kiến”, bé nhỏ, tội nghiệp, đáng thương; nhưng trong họ ngời lên nét đẹp về ngoại hình và tâm hồn rất đáng ngợi ca, trân trọng. Sắc đẹp là điều đầu tiên khi nói về người kỹ nữ. Truyện Đào Nương trích trong Dư công tiệp ký của Vũ Phương Đề hình ảnh kỹ nữ đã được nói tới là Đào Nương.
Nàng đã lập công giết giặc nhờ vào sắc đẹp và tài ca hát của mình.