Chương 1: Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn học trung đại và truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên Chương 2: Những biểu hiện của yếu tố tâm linh trong Lục Vân Tiên Chương 3: Hiệu quả thẩm mỹ của yếu tố tâm linh trong Lục Vân Tiên 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH YẾU TỐ TÂM LINH TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VÀ TRUYỆN THƠ NÔM LỤC VÂN TIÊN 1. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn học trung đại 1. Khái niệm tâm linh và yếu tố tâm linh Văn hóa tâm linh là thuật ngữ xuất hiện nhiều vào khoảng mƣời lăm năm gần đây, nhất là sau khi một số nhà nhân học, tâm lí học, khoa học xã hội quốc tế thừa nhận yếu tố tâm linh, một trong bốn thuộc tính của con ngƣời (con ngƣời xã hội, con ngƣời sinh học, con ngƣời tâm lí, con ngƣời tâm linh). Khi ghép “Tâm linh” vào “Văn hóa”, thì khái niệm “Văn hóa tâm linh” là hình thái văn hóa của một tộc ngƣời gồm: tôn giáo, tín ngƣỡng, nghệ thuật dân gian (folklore) và một phần của sáng tạo khoa học, nghệ thuật.
Từ cách hiểu và giới hạn khái niệm văn hóa và tâm linh, chúng tôi hiểu văn hóa tâm linh là những giá trị văn hóa tinh thần thiêng liêng. Đó là “văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [20; tr. Thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần, nhƣng văn hóa tâm linh với những đặc thù riêng không chỉ gồm những giá trị văn hóa vô hình (ý niệm, quan niệm, tập tục, nếp cảm nếp nghĩ, nghi lễ.) mà cả những giá trị văn hóa hữu hình thiêng liêng (đình, đền, miếu, mộ, chùa, nhà thờ, tƣợng, bàn thờ. Văn hóa tâm linh biểu hiện trong cả cuộc sống đời thƣờng và trong tín ngƣỡng tôn giáo.
Có thể thấy, trong cuộc sống con ngƣời luôn tồn tại đời sống tâm linh bên cạnh đời sống hiện thực thƣờng ngày với những nhu cầu vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe. Đời sống tâm linh là một phần của đời sống tinh thần. Ở đó có niềm tin vào “cái thiêng” khiến con ngƣời có đƣợc sự cân bằng trong cuộc sống. Với những ngƣời không theo tôn 12 giáo, đời sống tâm linh chỉ xuất hiện khi “hoàn cảnh thiêng”, “không gian thiêng”, “thời gian thiêng”.
Đó là vào những hoàn cảnh con ngƣời phải cầu viện vào sự phù hộ của Thánh Thần, Trời, Phật, Chúa. Đó là thời khắc thiêng liêng nhƣ ngày cúng giỗ (kị), đêm giao thừa, ngày tết, ngày rằm, các lễ hội có phần lễ thiêng liêng. những lúc ấy con ngƣời giao hòa với trời đất, thiên nhiên và những thế lực siêu hình (ông bà tổ tiên, Thánh Thần, Trời, Phật, Chúa. Sống trong bầu không khí thiêng liêng mang tính tâm linh ấy con ngƣời thực sự đƣợc giải tỏa.
Họ cảm thấy tinh thần đƣợc thƣ giãn, tâm hồn đƣợc tắm gội thanh lọc, họ cởi bỏ những phiền muộn, lo âu trong cuộc sống, họ cầu mong hi vọng và hƣớng đến những điều tốt đẹp cho bản thân, gia đình và xã hội ngay trong cuộc sống hiện tại. Sống đời sống tâm linh chính là cách để con ngƣời đến gần hơn với thế giới tâm linh - thế giới của những biểu trƣng về “đạo trời”, của những lực lƣợng siêu nhiên huyền bí với quyền năng vô hạn chi phối cuộc sống trần thế. Trong luận văn của mình, chúng tôi bƣớc đầu tìm hiểu văn hóa tâm linh trong tác phẩm văn học nổi bật của miền Nam - Lục Vân Tiên. Vì thế những biểu hiện của văn hóa tâm linh trong văn học giai đoạn này không chỉ là những niềm tin thiêng liêng trong tín ngƣỡng của ngƣời Việt mà đó còn là những biểu hiện tâm linh (không phải là tín ngƣỡng tôn giáo) của ngƣời dân Việt.
Ngƣời Việt Nam không kì thị tôn giáo bởi họ đến với tôn giáo bằng niềm tin vào những điều thiêng liêng có thể giúp họ có một sự cân bằng tinh thần trong cuộc sống. Trong ý niệm của nhân dân ta, từ xƣa thế giới luôn có các lực lƣợng siêu nhiên thống trị cuộc sống nhân gian, niềm tin đó tạo nên những hoạt động tƣơng ứng biểu hiện qua việc thờ cúng các nghi lễ, tập tục, kiêng kị. làm nên tín ngƣỡng dân gian. Tín ngƣỡng dân gian ngƣời Việt rất đa dạng, bao gồm tín ngƣỡng thờ thần thánh, trời đất nhƣ thành hoàng làng, thần hộ mệnh, thánh tổ nghề, thờ các vị phúc thần, các anh hùng lịch sử văn hóa.
đều là đối tƣợng để con ngƣời sùng kính, ngƣỡng mộ tôn vinh và noi 13 gƣơng; tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên là việc hƣớng về cội nguồn, biết ơn ngƣời đã khuất, tri ân công trạng của các bậc tiên hiền. Các tín ngƣỡng dân gian cùng với tâm linh của những ngƣời dân theo đạo Phật, Thiên chúa giáo, Đạo Hồi, Cao Đài. song hành tồn tại trong đời sống nhân dân và trở thành những sinh hoạt văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Văn học chỉ là một biểu hiện của văn hóa, là một mảng màu của bức tranh văn hóa thời đại nó ra đời.
Vì vậy, khi tìm hiểu văn hóa tâm linh trong Lục Vân Tiên, chúng tôi thu hẹp bộ phận văn hóa này trong tín ngƣỡng dân gian và những biểu hiện tâm linh của ngƣời có đạo vì mục đích hƣớng đến những điều thiện mĩ cho cuộc đời này qua những biểu hiện nhƣ: việc thờ cúng trong các nghi lễ (lễ cầu đảo, cúng Thành hoàng, cúng tổ tiên.), một số tập tục (kiêng, khấn nguyện, thề nguyền, cầu khẩn. Bên cạnh đó là niềm tin thiêng liêng đối với một số hiện tƣợng thiêng trong cuộc sống (giấc mộng, điềm báo, sự linh ứng, niềm tin vào phép thuật, tƣớng số, bói toán, hồn ma, hóa kiếp. Đời sống tâm linh là đặc thù của đời sống con ngƣời, chỉ có ở những con ngƣời có hoạt động thần kinh bình thƣờng. Tâm linh bao gồm các giá trị tinh thần hết sức phong phú và cao siêu của con ngƣời.
Nó bao gồm các cảm xúc rung động mãnh liệt về đời sống tinh thần nhƣ lòng vị tha, ý chí, linh hồn… Tâm linh bao gồm thế giới bên trong phong phú, phức tạp của con ngƣời. Trong đời sống con ngƣời, có rất nhiều yếu tố không thể giải thích đƣợc bằng khoa học lý tính. Con ngƣời phải cần đến thế giới cảm tính siêu hình để lý giải, cắt nghĩa. Chẳng hạn nhƣ chiêm bao, mộng mị, trời phật, thần tiên, hồn ma, bóng quế… Tất cả chi phối thế giới tinh thần con ngƣời một cách mạnh mẽ.
Do đó, đời sống tâm linh thƣờng xuyên hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của con ngƣời. Vậy tâm linh là gì? Tâm linh là “cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường. Là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng cao cả được đọng lại ở những biểu tượng hình ảnh, ý niệm” (Nguyễn Đăng Duy) [20, tr.
Tâm linh là hình thái 14 ý thức chỉ có ở con ngƣời, gắn liền với ý thức con ngƣời. Trong đời sống con ngƣời, những gì không thể giải thích đƣợc bằng tƣ duy thông thƣờng, trí não bình thƣờng không thể cắt nghĩa đƣợc thì đó chính là tâm linh. Nhƣ vậy, có thể hiểu tâm linh bao gồm: phần tinh thần, tình cảm, tâm hồn của con ngƣời, là đời sống nội tâm phong phú của con ngƣời, là khả năng phán đoán, biết trƣớc, đoán định sự việc diễn ra trƣớc mà không cần phân tích lý tính, là các hiện tƣợng liên quan đến ngƣời chết và con ngƣời sau khi chết. Nếu mặt hiện hữu có thể giải thích lý tính thì tâm linh gắn với cảm tính.
Tâm linh bao gồm 2 từ tâm và linh. Tâm đƣợc hiểu là lòng, là thế giới tinh thần của con ngƣời. Linh là thiêng. Tâm linh là thế giới tinh thần của con ngƣời, là sự nhạy bén, mẫn cảm của thế giới bên trong con ngƣời, có khả năng vƣợt khỏi tầng nhận thức lý tính để chạm đến những điều mà lý trí không thể nắm bắt và lý giải đƣợc.
Mỗi ngƣời đều có tâm linh nên họ tin vào những điều thiêng liêng, những điều mà tri giác thông thƣờng không thể nhận thức đƣợc. Tâm linh có thể đƣợc hiểu là lòng tin thiêng liêng vào những điều linh thiêng, là thế giới của những điều thiêng liêng mà con ngƣời luôn tin tƣởng, đề cao. Hạt nhân cơ bản làm nên thế giới tâm linh chính là niềm tin, niềm tin giúp nuôi dƣỡng thế giới tâm linh hiện hữu trong tâm thức mỗi ngƣời. Con ngƣời có niềm tin ở những điều tƣởng chừng nhƣ không nắm bắt đƣợc nhƣng nó vẫn tồn tại, vẫn quanh quẩn trong ý thức, câu chuyện, lời kể giữa mọi ngƣời với nhau.
Chính niềm tin đã duy trì thế giới tâm linh. Phƣơng thức tồn tại của tâm linh là trong đời sống của mỗi cá nhân, trong niềm tin của những thành viên gia đình, trong cộng đồng, làng xã có chung tín ngƣỡng, phong tục, tập quán… Đó có thể là đức tin, sự chiêm nghiệm của mỗi ngƣời trong thực tế đời sống họ đã qua, cũng có thể là một tôn giáo mà gia đình đang thờ phụng, cũng có thể là một nhân vật kiệt xuất cả làng cùng tôn là thành hoàng… Tâm linh và các yếu tố của tâm linh tồn tại bất kỳ đâu trong đời sống con ngƣời. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh 1. Cơ sở văn hóa bản địa Văn hóa tâm linh Việt Nam đƣợc hình thành từ tín ngƣỡng bản địa và các tôn giáo khác.
Tín ngƣỡng ngƣời Việt có nguồn gốc từ tín ngƣỡng phồn thực, sùng bái tự nhiên với tín ngƣỡng đa thần đặc biệt thiên về âm tính (thờ Mẫu trong Tam, tứ Phủ, hay thờ tứ Pháp: Mây, Mƣa, Sấm, Chớp) đến thờ thực vật, động vật (Rồng tiên, Cây lúa, Thần Lúa…) và thờ con ngƣời nhƣ Hồn, Vía, Tổ tiên, Tổ nghề, Thành Hoàng làng, Vua tổ, Tứ bất tử (Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh). Đồng thời, ngƣời dân Việt còn thờ Thần linh: nhƣ Thổ công, Thần tài, Thần thánh, các anh hùng dân tộc. Trong quá trình tiếp xúc với các tôn giáo du nhập khác nhƣ Phật, Thiên chúa, Hồi, Tin lành hay các tôn giáo mới đƣợc bản địa hóa nhƣ Cao Đài, Hòa hảo… ngƣời Việt có những niềm tin tâm linh mới trên cơ sở dung hòa và thiết thực. Sự tồn tại của niềm tin tâm linh trong 54 sắc tộc anh em khác nhau đã tạo dựng nên một cộng đồng với văn hóa tâm linh đa dạng, phong phú.