Chương I. Địa lý tự nhiên và dân cư 1. Đặc điểm tự nhiên 1. Vị trí địa lý Hưng Định nằm ở phía Bắc huyện Thuận An, phía Đông giáp xã Thuận An, phía Tây giáp xã An Sơn, phía Nam giáp xã Bình Nhâm.
Hưng Định bao gồm 3 ấp là Hưng Phước, Hưng Lộc và Hưng Thọ. Số dân là 14. Diện tích tự nhiên của Hưng Định là 2,86 km², trong đó có 50,94 ha đất nông nghiệp, 158,32 ha là diện tích vườn cây ăn trái. Thổ nhưỡng và khí hậu Bởi nằm ở vùng hạ lưu sông Sài Gòn nên vùng đất Hưng Định mang đặc trưng của vùng đồng bằng, có đất đai phì nhiêu, màu mỡ được bồi đắp bởi phù sa của sông Sài Gòn.
Vì vậy, Hưng Định là một trong những vùng đất nổi tiếng với vườn cây ăn trái với nhiều loại cây ăn quả như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon,… Hưng Định nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới vùng Đông Nam Bộ nên khí hậu nơi đây mang sắc thái của vùng khí hậu cận xích đạo với nền nhiệt độ cao, nóng và ẩm quanh năm. Khí hậu có sự phân hóa thành hai mùa. Mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian nắng nhiều vào các tháng 2, 3, 4.
Trong năm, nắng trung binhft ừ 2. Vào mùa này, thời tiết nắng nóng, lượng mưa ít nên sản xuất nông nghiệp gặp không ít những khó khăn. Mùa mưa bắt đầu từ tháng năm đến cuối tháng 10, mưa nhiều nhất vào tháng 7, 8, 9. Lượng mưa trung bình khoảng 1.
Tuy lượng nước nhiều nhưng ít khi xảy ra lũ lụt bởi có hệ thống sông ngòi, mương rạch nhiều nên thoát nước nhanh. Vào mùa này, thời tiết mát mẻ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Hệ thống kênh rạch ở Hưng Định khá dày, tập trung phần lớn ở phía Đông, đây là nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ở nơi đây. 1 Ủy ban nhân dân thị xã Thuận An, QĐ Số 3746 Phê duyệt đồ án quy hoạch phân khu tỉ lệ 1/2000 Hưng Định đến 2020, định hướng đến năm 2030, ngày 26 – 6 – 2013.
10 Với những điều kiện tự nhiên thuận lợi, trong quá trình khai phá tạo dựng làng xã, nhân dân xã Hưng Định qua bao thế hệ đã đấu tranh chống lại thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, tạo nên một vùng đất mới phù sa, tươi tốt. Đặc điểm dân cư Dân số xã trước năm 1975 là 3. Nam Bộ trước thế kỉ XVII còn là một vùng đất hoang vắng, chỉ có một số cư dân bản địa các tộc người Stiêng, người Chàm, rồi người Khơme sinh sống thưa thớt trên các vùng đồi cao, sống chủ yếu bằng việc săn bắt, hái lượm, làm lúa. Đất đai chủ yếu là rừng rậm, đầm lầy hoang hóa, nhiều thú dữ.
Đa phần đất chưa được khai phá. Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào giữ Trấn thủ Thuận Hóa tiến hành chiêu dân mở đất dần về phía Nam, nhằm chống lại chúa Trịnh ở Bắc Hà. Lúc bấy giờ, dân cư người Việt mới chỉ khai phá từ vùng sông Gianh đến địa bàn Phú Yên, Khánh Hòa. Do đất hoang còn nhiều, dân cư lại ít nên nhu cầu mở rộng đất đai vào vùng Nam Bộ cho dân sinh sống chưa cấp thiết lắm.
Đến thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, khi cuộc giao tranh Trịnh – Nguyễn kéo dài 45 năm (1627 – 1672) diễn ra, dân số Đàng Trong tăng lên từ số tù binh Bắc Hà mà chúa Nguyễn bắt được đem vào khai khẩn đất hoang ở một số vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,… Mặt khác, lúc bấy giờ, Đàng Ngoài lại đất chật người đông, thiên tai, lũ lụt, hạn hán xảy ra liên miên, mất mùa đói kéo xảy ra, buộc dân chúng phải rời bỏ quê hương mà tìm đến vùng đất mới để sinh sống. Các chúa Nguyễn nhận thấy tiềm năng của vùng đất Nam Bộ nên đã gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Preachey Chetttha II nhằm đưa dân tiến vào Nam Bộ. Trong quá trình Nam tiến, lưu dân vùng Ngũ Quảng đã dừng chân tại các vùng đất Mô Xoài – Bà Rịa, Cù lao Phố – Biên Hòa, Bến Nghé – Sài Gòn, sau dần tiến vào vùng 2 BCH Đảng bộ huyện Thuận An, Đảng bộ xã Hưng Định, Lịch Sử truyền thống Đảng bộ và nhân dân xã Hưng Định (1930 – 2005), Bình Dương - 2009 11 Bàn Lâm, Bến Gỗ, Bến Cá, Cù lao Rùa, Cù lao Tân Chánh, Tân Triều, Tân Uyên, Rạch Giá Ruông…để định cư và khai khẩn. Nơi họ dừng chân là những vùng đất ven sông Thị Tính, sông Đồng Nai và sông Sài Gòn rất nhiều đất đai phù sa màu mỡ, có thể giúp họ ổn định cuộc sống3.
Dọc theo những con sông ấy, đất đai hai bên bờ được bồi đắp phù sa nên các lưu dân đã nhanh chóng tìm được vùng đất mới thích hợp để định cư, khai hoang, cất nhà, làm vườn. Song song với việc định cư là việc hình thành và phát triển nền nông nghiệp lúa nước cùng hệ thống vườn cây ăn quả nên diện tích đất nông nghiệp càng ngày càng được mở rộng. Do mới bước chân đến vùng đất mới lạ để sinh cơ lập nghiệp nên lưu dân Việt phải dựa vào nhau, đoàn kết thuần hóa thiên nhiên hoang dã để sinh tồn. Và dần dần, số lượng cư dân tăng lên, các ấp, thôn, xã được thành lập dần.
Như vậy, lớp cư dân đầu tiên vào đây phần lớn là những lưu dân ở các phủ Điện Bàn, Quảng Nam, Quảng Ngãi di cư đến khai khẩn. Họ là những người theo chúa Nguyễn Hoàng và các tù binh bị bắt, nhất là những người dân gặp nạn đói lớn ở Đàng Ngoài, họ phải rời quê để làm lại cơ nghiệp. Họ sống chung với nhau và đến năm 1698, khi chúa Nguyễn Phúc Chu cử Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam thiết lập chủ quyền của nước Đại Việt trên đất Đồng Nai – Gia Định, cả dinh Trấn Biên có khoảng 4 vạn hộ tức 40. Trên cơ sở đó, chúa Nguyễn đã cho phép đặt ra phường, ấp, xã thôn, chia cắt địa phận để quản lý dân cư.
Vùng đất nay là tỉnh Bình Dương thưở ấy thuộc Tổng Bình An, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên. Bên cạnh đó, còn nhiều người Hoa cũng di cư vào đây theo từng đợt. Phần đông là những người lao động nghèo. Họ qua đất Nam mỗi khi bên Trung Quốc có biến động chính trị.
Nhất là trong khoảng thời gian diễn ra phong trào “phản Thanh phục Minh” thất bại. Đã có khoảng 3000 binh lính do Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch dẫn đầu xuôi biển tới Đàng Trong xin chúa Nguyễn định cư. Với sự năng động, cần mẫn, lưu dân người Hoa đã nhanh chóng lập nên những khu chợ tấp nập sầm uất ở Cù lao Phố hay Bến 3 Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương, Địa chí Bình Dương tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Tr. 153 12 Nghé và dần tỏa ra các khu vực lân cận.
Đến đây, họ cùng người Việt khai phá đất hoang, làm nông nghiệp. Đến thế kỉ XVIII, người Hoa ở Bình Dương còn làm các nghề thủ công truyền thống như làm gốm. Như vùng gốm sứ Cây Mai – Bến Nghé phát triển mạnh vào thế kỉ XVIII nổi tiếng với gốm men xanh, men vàng, nhất là tượng gốm và tranh gốm. Nguyên liệu được lấy từ đất Thủ rồi chuyển về vùng Cây Mai theo đường sông.
Cư dân đến vùng Cây Mai ngày một đông, đất chật người đông nên các nghệ nhân muốn tìm đến một nơi khác rộng rãi hơn. Lúc bấy giờ, vùng Chòm Sao của Hưng Định, Lái Thiêu là nơi lý tưởng với vùng đất rộng, thuận lợi cho việc tìm nguyên liệu và lưu thông buôn bán. Nghề gốm có mặt sớm tại vùng Chòm Sao vào khoảng năm 1858, 1860 rồi dần phát triển ra Lái Thiêu, Phú Cường. Ngoài ra, còn có những người thương nhân vượt biển để buôn bán và một số đã ở lại Đàng Trong sinh sống định cư.
Nhìn chung nguồn gốc cư dân phần đông là những người lao động nghèo khó, họ di cư xuôi Nam để tránh họa nghèo đói, họa chiến tranh, phải đi tìm vùng đất mới sinh cơ lập nghiệp. Những thành phần tù tội bị đày tới nơi xa lao động cải tạo. Những binh lính quan quân chúa Nguyễn tình nguyện cùng lưu dân khai phá đất hoang. Những nhà nho chán ghét thói đời đen bạc.
Trong đó có ông Nguyễn Văn Bình, người quê ở Quảng Bình theo đạo Thiên Chúa, học thi đỗ ra làm quan, được cử chức tri châu. Sau 12 năm lận đận quang trường, vì chán cảnh đao binh loạn lạc, nên ông đã cáo bệnh từ quan, chuyển sang làm nghề lương y bốc thuốc với danh hiệu Đức Trọng Đường. Ông đã nhiều lần xuôi Nam đến trấn Biên Hòa, tới huyện Bình An bốc thuốc chữa bệnh cho lưu dân. Những nơi ông đặt chân tới, ông có để tâm đến một vùng đất thung lũng khá bằng phẳng.
Tới khi ngoài 40, ông mới quyết định đưa gia đình vào Nam lập nghiệp. Ông lấy tên hai người con của mình để đặt tên cho xã. Bên cạnh lớp dân di cư trên còn có những giáo dân lui tới đây, chạy trốn những chính sách bài trừ đạo Thiên Chúa của triều đình nhà Nguyễn và truyền đạo. Ngoài ra còn có những người phản đối chính quyền phong kiến Đàng Ngoài bị đày ải vào chốn hoang 13 vu này để sống.
Làng xã lần lượt ra đời và đi vào sản xuất ổn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán làm ăn của lớp cư dân người Hoa. Trong đó phát triển nghề gốm sứ. Cư dân Hưng Định ngày một đông đúc. Dưới thời Pháp thuộc, với chính sách sưu cao thuế nặng của Tự Đức đã đẩy người dân nghèo từ miền Bắc, miền Trung tìm đến Nam Bộ.
Qua những lần khai thác thuộc địa cùng những chính sách mở đồn điền cao su, thực dân Pháp tuyển mộ nông dân nghèo khốn cùng vào làm cu ly cho các đồn điền cao su. Họ trở thành lớp cư dân mới ở vùng đất này. Có thể thấy, những lưu dân đến vùng đất mới có nhiều thành phần nhưng họ có chí làm ăn trên vùng đất mới với bạt ngàn cây rừng, thú dữ. Tuy khác nhau về dòng họ, quê quán những khi tới đây, họ đã tập hợp lại với nhau, tương trợ nhau, cùng nhau khai phá, biến vùng đất hoang sơ thành vùng đồng bằng phù sa màu mỡ, dựng làng khai xóm bằng chính sức lao động của mình, họ đã anh dũng chống lại kẻ thù xâm lược các thời, vượt qua những khó khăn của thiên nhiên để tồn tại và đi lên.