Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam: Từ Khởi Nguyên Đến Hiện Đại

Tài liệu nghiên cứu Việt nam phật giáo sử luận, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Nhà xuất bản Văn học

Chuyên ngành

Phật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

công trình nghiên cứu

1992

911
1
0

Phí lưu trữ

135 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 01: Trung Tâm Phật Giáo Luy Lâu

2. CHƯƠNG 02: Hai Thế Kỷ Đầu

3. CHƯƠNG 03: Khởi Nguyên Của Thiền Học Việt Nam

4. CHƯƠNG 04: Sách Thiền Uyển Tập Anh & Các tài liệu ĐPVN Đời Đường

5. CHƯƠNG 05: Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi

6. CHƯƠNG 06: Thiền Phái Vô Ngôn Thông

7. CHƯƠNG 07: Thiền Phái Thảo Đường

8. CHƯƠNG 08: Tổng quan về Phật giáo đời nhà Lý (1010-1225)

9. CHƯƠNG 09: Nền tảng của Phật Giáo đời Trần

10. CHƯƠNG 10: Trần Thái Tông (1218-1277)

11. CHƯƠNG 11: Tuệ Trung Thượng Sĩ

12. CHƯƠNG 12: Trần Nhân Tông và Thiền Phái Trúc Lâm

13. CHƯƠNG 13: Thiền Sư Pháp Loa (1248-1330)

14. CHƯƠNG 14: Thiền Sư Huyền Quang (1254-1334)

15. CHƯƠNG 15: Những khuôn mặt Phật Tử khác trong đời Trần

16. CHƯƠNG 16: Tổng luận về Phật Giáo đời Trần

17. CHƯƠNG 17: Sinh hoạt của Tăng đồ và cư sĩ

18. CHƯƠNG 18: Đạo Phật trong đời Nho học độc tôn

19. CHƯƠNG 19: Sức sáng tạo của giới Phật tử đại chúng

20. CHƯƠNG 20: Sự phục hưng môn phái Trúc Lâm

21. CHƯƠNG 21: Thiền Sư Hương Hải

22. CHƯƠNG 22: Thiền Phái Lâm Tế và Phật Giáo Đàng Trong

23. CHƯƠNG 23: Thiền phái Tào Động tới Việt Nam

24. CHƯƠNG 24: Lý học và Phật Giáo

25. CHƯƠNG 25: Các Danh Tăng đời Nguyễn

26. CHƯƠNG 26: Khái quát về công cuộc chấn hưng Phật Giáo 1930-1945

27. CHƯƠNG 27: Thiền Sư Khánh Hòa và công cuộc vận động ở Nam kỳ

28. CHƯƠNG 28: Hội An nam Phật học Trung kỳ

29. CHƯƠNG 29: Công cuộc chấn hưng ở Bắc Kỳ

30. CHƯƠNG 30: Sau Cách Mạng Tháng Tám

31. CHƯƠNG 31: Xây dựng lại các cơ sở hành đạo

32. CHƯƠNG 32: Chùa Ấn Quang và Chùa Xá Lợi ở Nam Việt

33. CHƯƠNG 33: Chùa Linh Quang và Chùa Từ Đàm ở Trung Việt

34. CHƯƠNG 34: Chùa Quán Sứ ở Bắc Việt

35. CHƯƠNG 35: Con đường thống nhất

37. CHƯƠNG 37: Những nguyên do của cuộc vận động chống chế độ NĐD

38. CHƯƠNG 38: Cuộc vận động chống chế độ Ngô Đình Diệm

39. CHƯƠNG 39: Phật tử đòi thực thi thông cáo chung

40. CHƯƠNG 40: Chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam Qua Các Thời Kỳ

Lịch sử Phật giáo Việt Nam là một hành trình dài và phong phú, bắt đầu từ những ngày đầu của nền văn minh Việt Nam. Phật giáo đã được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ nhất, và từ đó đã phát triển mạnh mẽ, trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa và tâm linh của người Việt. Các giai đoạn phát triển của Phật giáo có thể được chia thành nhiều thời kỳ khác nhau, từ thời kỳ đầu du nhập cho đến thời kỳ hiện đại. Mỗi thời kỳ đều có những đặc điểm riêng, phản ánh sự giao thoa giữa văn hóa bản địa và ảnh hưởng của các nền văn hóa khác. Sự phát triển của Phật giáo không chỉ là sự phát triển của một tôn giáo mà còn là sự phát triển của một nền văn hóa tinh thần phong phú, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội.

1.1. Sự Du Nhập Của Phật Giáo Vào Việt Nam

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ nhất, chủ yếu qua con đường thương mại và giao lưu văn hóa với Ấn Độ và Trung Quốc. Những người đầu tiên mang Phật giáo đến Việt Nam là các thương nhân và tu sĩ. Họ đã thiết lập các trung tâm Phật giáo đầu tiên tại các vùng như Luy Lâu, nơi được coi là cái nôi của Phật giáo Việt Nam.

1.2. Sự Phát Triển Của Phật Giáo Trong Thời Kỳ Đầu

Trong những thế kỷ tiếp theo, Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt dưới triều đại Lý và Trần. Các triều đại này đã xây dựng nhiều chùa chiền và phát triển các tông phái như Thiền phái Trúc Lâm. Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà còn là một phần của văn hóa và chính trị, ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của đời sống xã hội.

II. Những Thách Thức Đối Với Phật Giáo Việt Nam Trong Lịch Sử

Mặc dù Phật giáo Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, nhưng cũng không thiếu những thách thức. Các cuộc chiến tranh, sự xâm lược của các thế lực ngoại bang, và sự cạnh tranh với các tôn giáo khác đã tạo ra nhiều khó khăn cho Phật giáo. Đặc biệt, trong thời kỳ thuộc Pháp, Phật giáo phải đối mặt với sự đàn áp và hạn chế hoạt động. Tuy nhiên, nhờ vào sự kiên cường và lòng yêu nước của các tăng ni, Phật giáo vẫn tồn tại và phát triển.

2.1. Cuộc Chiến Chống Lại Sự Đàn Áp Của Thực Dân

Trong thời kỳ thực dân Pháp, Phật giáo đã phải đối mặt với nhiều khó khăn. Nhiều chùa chiền bị đóng cửa, và các hoạt động tôn giáo bị hạn chế. Tuy nhiên, các tăng ni và Phật tử đã tổ chức nhiều phong trào đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình và duy trì hoạt động tôn giáo.

2.2. Sự Cạnh Tranh Với Các Tôn Giáo Khác

Ngoài sự đàn áp từ thực dân, Phật giáo còn phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo và Nho giáo. Sự phát triển của các tôn giáo này đã tạo ra nhiều thách thức cho Phật giáo, buộc nó phải tìm cách thích nghi và phát triển để tồn tại.

III. Các Tông Phái Chính Của Phật Giáo Việt Nam

Trong lịch sử phát triển của Phật giáo Việt Nam, nhiều tông phái đã hình thành và phát triển, mỗi tông phái đều có những đặc điểm riêng. Các tông phái chính bao gồm Thiền phái Trúc Lâm, Thiền phái Vô Ngôn Thông, và Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Mỗi tông phái không chỉ mang đến những giáo lý riêng mà còn góp phần vào sự phát triển của văn hóa và nghệ thuật Việt Nam.

3.1. Thiền Phái Trúc Lâm Và Vai Trò Của Trần Nhân Tông

Thiền phái Trúc Lâm được sáng lập bởi Trần Nhân Tông, một vị vua kiệt xuất của triều đại Trần. Ông không chỉ là một nhà lãnh đạo tài ba mà còn là một thiền sư vĩ đại. Thiền phái này đã đóng góp lớn vào sự phát triển của Phật giáo và văn hóa Việt Nam, với nhiều tác phẩm văn học và nghệ thuật nổi bật.

3.2. Thiền Phái Vô Ngôn Thông Và Đặc Điểm Của Nó

Thiền phái Vô Ngôn Thông là một trong những tông phái quan trọng của Phật giáo Việt Nam. Tông phái này nổi bật với phương pháp tu tập không lời, nhấn mạnh vào trải nghiệm trực tiếp và sự giác ngộ. Các thiền sư của tông phái này đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Phật giáo và văn hóa Việt Nam.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Phật Giáo Trong Đời Sống Người Việt

Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà còn là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa và tinh thần của người Việt. Các giá trị của Phật giáo đã ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực như nghệ thuật, văn học, và phong tục tập quán. Các lễ hội, nghi thức tôn giáo, và các hoạt động từ thiện đều mang đậm dấu ấn của Phật giáo.

4.1. Phật Giáo Trong Nghệ Thuật Và Văn Hóa

Nghệ thuật và văn hóa Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Phật giáo. Nhiều tác phẩm nghệ thuật, từ tranh vẽ đến điêu khắc, đều mang chủ đề Phật giáo. Các lễ hội tôn giáo cũng thường xuyên được tổ chức, tạo ra không khí trang nghiêm và linh thiêng cho cộng đồng.

4.2. Các Hoạt Động Từ Thiện Của Phật Giáo

Phật giáo cũng nổi bật với các hoạt động từ thiện, giúp đỡ những người nghèo khổ và gặp khó khăn. Các chùa thường tổ chức các chương trình từ thiện, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Những hoạt động này không chỉ thể hiện tinh thần từ bi của Phật giáo mà còn góp phần củng cố mối quan hệ cộng đồng.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Phật Giáo Việt Nam

Tương lai của Phật giáo Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của công nghệ thông tin, Phật giáo cần phải thích nghi và phát triển để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tinh thần của Phật giáo là rất quan trọng để duy trì bản sắc văn hóa dân tộc.

5.1. Thách Thức Trong Thời Đại Hiện Đại

Trong thời đại hiện đại, Phật giáo phải đối mặt với nhiều thách thức như sự cạnh tranh từ các tôn giáo khác và sự thay đổi trong lối sống của con người. Việc duy trì sự hấp dẫn của Phật giáo đối với thế hệ trẻ là một nhiệm vụ quan trọng.

5.2. Cơ Hội Phát Triển Của Phật Giáo Trong Tương Lai

Mặc dù có nhiều thách thức, nhưng Phật giáo cũng có nhiều cơ hội để phát triển. Sự quan tâm ngày càng tăng đối với các giá trị tâm linh và tinh thần có thể giúp Phật giáo thu hút thêm nhiều tín đồ mới. Việc áp dụng công nghệ trong việc truyền bá giáo lý cũng là một hướng đi tiềm năng cho Phật giáo Việt Nam.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu Hoàng Giang giáo phái ở Sơn Nam là Ðỗ Ðô, thuộc thế hệ thứ tư dòng thiền Thảo Ðường, rõ ràng là người đã kết hợp chặt chẽ Mật tông với Ðạo giáo) ? Và tại sao trong chương " Lý học và Phật giáo" thì lại chỉ đề cập đến Lê Quý Ðôn (đặt ông này vào thế hệ sau thế hệ Ngô Thì Sĩ có đúng không?), Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du chứ không thêm vào dăm ba tên tuổi khác cũng có thơ văn bàn về Phật và Nho? Ngay như Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Du, tuy đều là nhà Nho thật đấy, nhưng sáng tác của họ đả động trực tiếp đến vấn đề gì có liên quan giữa Lý học và Phật học và Phật Học thì cách giải thích kể cũng chưa phải đã rõ ràng. Tựu trung, nhận xét có thể rút ra không mấy khó khăn, là tập II không được chuẩn bị kỹ như tập I. Tập I tuy cũng còn những tiết mục viết sơ lược, như mục " Thiền ngữ và hình ảnh thi ca" (Chương VI, (nếu ta đối chiếu với cách D. Suzuki trình bày vấn đề " Thiền và thơ Haikư" trong cuốn Thiền và văn hóa Nhật Bản (14), hẳn nhận ra chỗ còn sơ lược của Việt Nam Phật giáo sử luận), nhưng xét về tổng thể, cả tập I vẫn là một khối gắn bó vững chắc, trong khi tập II có phần lỏng lẽo hơn.

Có vẻ như một số chương ở tập này chỉ mới là những cái khung được dựng sơ sài, hoặc có những cánh cửa còn để ngỏ, để tác giả còn có dịp bổ sung sửa chữa khi tái bản. Với tất cả những ưu điểm nổi bật và những mặt còn tồn tại của nó, tôi Việt Nam Phật giáo sử luận vẫn là một trong số rất ít công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh về Phật Học Việt Nam trong vòng 20 năm qua. Ðối với người nghiên cứu chuyên sâu hay với bạn đọc rộng rãi muốn nhìn lại lịch sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chắc đều có thể tìm thấy ở đây những gợi ý hữu ích, và một người dẫn đường đáng tin cậy. Viết tại Mộng Thương thư trai mùa kết hạ 1992 Gs.

NGUYỄN HUỆ CHI 1. Người viết bài này, mặc dù không có hân hạnh quen biết tác giả, vào cuối năm 1978 cũng nhận được 2 tập sách gửi qua Bộ Ngoại gia đến Nxb. Khoa học xã hội (là nơi in xong Thơ văn Lý - Trần, tập I) với lời đề tặng trân trọng. Nhân dịp này xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành của chúng tôi.

Của Trần Văn Giáp. Của Thích Mật Thể, Nxb, Tân Việt, Hà Nội, 1943. Tác phẩm đời Trần, ghi chép phả lục các dòng Thiền Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Ða Lưu Chi, và Thảo Ðường. Bản in sớm nhất còn lại vào năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1765).

Tập tiểu thuyết về 5 vị Thiền sư đồng thời là vua triều trần: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông. Bản in sớm nhất còn lại vào năm Cảnh Hưng thứ 16 (1765), do Sa môn Quảng Ðiền và Hải Lượng trùng đính, trùng san. Tập tiểu thuyết về 5 vị Thiền sư đồng thời là vua triều Trần: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông. Bản in sớm còn lại vào năm Cảnh Hưng 11 (1750), do sư Quảng Ðức hiệu đính và đề tựa.

Tên đầy đủ là Ngự chế Thiền uyển thống yếu kế đăng tục, do Thiền sư Như Sơn biên soạn, được khắc bản vào năm Giáp dần (1. Còn có tên là Thuyền uyển kế đăng lược lục, do Hòa thượng Phúc Ðiền biên soạn, khắc bản vào năm Tự Ðức thứ 12 (1859). " Ðừng có bảo tôi đã không nói cái gì mới. Cách bố trí tài liệu là cái mới đó.

Cũng như khi người ta đánh cầu, hai người cùng chơi một quả cầu, nhưng một người gieo đúng chỗ hơn (Les Pensées) 11. Trong thời gian ông Nguyễn Lang tìm ra tên thật của Tuệ Trung Thượng sĩ ở Sài Gòn thì ở Hà Nội, nhóm nghiên cứu thơ văn Lý - Trần của Viện Văn học cũng đạt đến kết quả đó. Xem thơ văn Lý - Trần, Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977; tr.

Chẳng hạn, bài Một vài tìm tòi bước đầu về văn bản thơ văn Lý - Trần của Trần Thị Băng Thanh. Tạp chí Văn học số 5 - 1972, đã được sử dụng ở các trang 269 - 272, tập I Việt Nam Phật giáo sử luận (bản in lần này) 13. Trong tập II của bộ sách, tác giả đã sử dụng một giả thuyết của Ðinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong cuốn Văn Học dân gian, Tập I (Nxb. Ðại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1972; tr.

228) để cho rằng tác phẩm Trần triều Thiền tông truyền tâm quốc ngữ hành là một tác phẩm dân gian thuộc loại văn kể hạnh ra đời từ đời Trần (xem tr. 75, tập II, bản in lần này) 14. Xin xem Thiền dữ Nhật Bản văn hóa. Ðào Cương dịch sang Trung văn.

Sinh hoạt, độc thư, tân trị tam liên thư điếm phát hành, Bắc Kinh, 1989; tr. Tập I Chương 01: Trung Tâm Phật Giáo Luy Lâu Ba Trung Tâm Phật Giáo Ðời Hán Ðạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch. Tài liệu chắc chắn cho biết rằng vào hạ bán thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một trung tâm Phật Giáo phồn vinh và quan trọng rồi, nhưng có thể đạo Phật đã du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên. Các tài liệu như Hậu Hán Thư trong đó có câu chuyện Sở Vương Anh theo Phật Giáo, sách Lý Hoặc Luận của Mâu tử viết tại Việt Nam vào hạ bán thế kỷ thứ hai, kinh Tứ Thập Nhị Chương và một số tài liệu khác, có tính cách lặt vặt hơn, cho ta thấy rằng trong đời Hậu Hán (thế kỷ thứ nhất và thứ hai) ngoài hai trung tâm Phật Giáo ở Trung Hoa, còn có một trung tâm Phật Giáo rất quan trong khác ở Giao Chỉ, tức Việt Nam, lúc bấy giờ đang nội thuộc Trung Quốc.

Hai trung tâm ở Trung Hoa là trung tâm Lạc Dương và trung tâm Bành Thành. Lạc Dương là kinh đô Trung Hoa vào đời nhà Hán, Hiện nay là một huyện ở tỉnh Hà Nam, còn Bành Thành thì ở về hạ lưu sông Dương Tử, hiện thuộc tỉnh Giang Tô. Ở nước ta thì có trung tâm Luy Lâu: Luy Lâu là trị sở bấy giờ của Giao Chỉ, hiện nay thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Trong ba trung tâm Phật Giáo đời Hán vừa kể, trung tâm nào được thành lập sớm nhất? Hiện giời chưa có câu trả lời dứt khoát.

Nhưng đứng về nguồn gốc, chỉ có trung tâm Luy Lâu tại Giao Chỉ là ta biết chắc chắn do đau mà được thành lập. Nguồn gốc của hai trung tâm Lạc Dương và Bành Thành vẫn còn rất mờ. Có nhiều dữ kiện khiến cho chúng ta nghĩ trung tâm Luy Lâu được thành lập sớm nhất, và trung tâm này đã làm bàn đạp cho sự thành lập các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Hoa. Nguồn Gốc Trung Tâm Luy Lâu Trung tâm Luy Lâu được hình thành do sự viếng thăm của những tăng sĩ Ấn Ðộ.

Các vị tăng sĩ này tới viếng Việt Nam bằng đường biển, theo các thuyền buôn người Ấn. Nhưng trước khi các vị tăng sĩ Ấn Ðộ tới Việt Nam, các thương gia Ấn Ðộ cũng đã tới Việt Nam rồi và cũng đã mang theo sinh hoạt Phật Giáo tới xứ ta. Hồi bấy giờ (đầu kỷ nguyên) Ấn Ðộ đã có liên hệ thương mại trực tiếp với Trung Ðông và gián tiếp với các nước vùng Ðịa Trung Hải, Ðế quốc La Mã tiêu thụ rất nhiều vàng, lụa, hương liệu, trầm, quế, tiêu, ngà voi, châu báu. Ðể có đủ hàng cung cấp cho thị trường ấy, các thương gia Ấn Ðộ đã dong thuyền đi mãi vè Viễn Ðông.

Những thương thuyền này theo gió mùa Tây nam đi về Ðông Nam Á, tời bờ biển Mã Lai, Phù Nam và Giao Chỉ. Thương gia Ấn Ðộ phải ở lại đây cho đến năm tới, chờ cho gió mà Ðông bắc để trở về Ấn Ðộ. Trong thời gian này, họ lại sống với dân bản xứ à đã ảnh hưởng tới dân bản xứ bằng lối sống văn minh của họ. Vì sự có mặt của những thương gia Ấn Ðộ mà dân ta hồi đó đã biết đến ít nhiều về kỹ thuật canh tác, y thuật và tôn giáo Ấn Ðộ.

Ta có thể nói rằng chính những thương gia Ấn Ðộ đã trước tiên đem Phật giáo vào nước ta. Những thương gia kia, tuy vậy, không phải là những nhà truyền giáo, và mục đích của họ khi đến xứ ta là để buôn bán chứ không phải là để truyền đạo. Trong thời gian lưu lại Giao Chỉ, họ thờ Phật, đốt trầm, đọc kinh và cúng dường những pháp Phật nho nhỏ mà họ mang theo. Người Giao Chỉ ta đã áp dụng những điều hay về canh nông và về y thuật do họ chỉ bày, cố nhiên là cũng tỏ ra mến chuộng tôn giáo của họ.

Nhưng nếu hồi đó có những người Giao Chỉ theo đạo Phật thì đạo Phật đây cũng mới chỉ là những sinh hoạt tín ngưỡng đơn sơ của người cư sĩ, giới hạn trong sự tụng đọc tam quy, cúng dường Phật tháp và bố thí cho người ốm đau đói khổ mà thôi, chứ chưa có sự học hỏi kinh điển và chế độ tăng sĩ. Trong các chuyến đi xa hàng năm với nhiều tháng lênh đênh trên biển cả như thế, các thương gia Ấn cũng thờ cúng và cầu nguyện đức Phật và các vị Bồ Tát hộ trì cho trời yên biển lặng và mọi sự yên lành. Các thương thuyền này thường thờ đức Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và đức Nhiên Ðăng (Dipankara), được nổi tiếng là những vị che chở cho thủy thủ được an lành ngoài biển khơi. Cũng trong mục đích cầu nguyện và cúng dường tam bảo, họ thỉnh theo thương thuyền một vị tăng sĩ.

Chính những vị tăng sĩ đi theo thương thuyền này sẽ lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu tại Giao Chỉ. Tuy nhiên, những vị tăng sĩ đi theo các thương thuyền Ấn Ðộ không phải chỉ mục đích giảng đạo và cầu nguyện cho các Phật tử trong thương thuyền. Vào cuối thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, khuynh hướng Phật Giáo đại thừa đã nẩy nở tại Ấn Ðộ, và vào đầu thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây lịch, các trung tâm Amaravati và Nagarjunakonda ở miền duyên hải Ðông nam Ấn Ðộ dần dần trở nên những trung tâm Phật giáo truyền báo vào các nước xa là một trong những hoa trái của đạo Phật đại thừa; chính ý hướng này đã thúc đẩy những vị tăng sĩ đi theo với các thương thuyền về Ðông Nam Á.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ