CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG THÊU REN QUẤT ĐỘNG, HUYỆN THƯỜNG TÍN, TỈNH HÀ TÂY. Điều kiện tự nhiên Làng Quất Động xưa kia thuộc huyện Thượng Phúc – phủ Thường Tín trấn Nam Sơn. Theo dư địa chí của Nguyễn Trãi thì trấn Nam Sơn là trấn thứ 3 trong 4 kinh trấn và đứng đầu phên đậu phía Nam, có 9 lộ phủ, 36 huyện, 2059 làng xã. Đây là vùng đất màu mỡ có nhiều tài nguyên như: thuốc hút (Chân Định), lụa (Thanh Oai), muối (xã Hoàng Mai), rượu sen, rượu cú (Bình Vọng), rượu nếp (Đông Thai)… Theo Đại Nam Nhất Thống Chí (quốc sử triều Nguyễn) thì: phủ Thường Tín ở cách tỉnh thành 31 dặm về phía nam, đông tây cách nhau 20 dặm, nam bắc cách nhau 30 dặm, phía đông đến sông Nhị, đối ngạn với địa giới huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh và địa giới huyện Đông Yên thuộc tỉnh Hưng Yên 10 dặm, phía nam đến địa giới huyện Duy Tiên phủ Lí Nhân 32 dặm, phía bắc đến địa giới các huyện thọ xương và vĩnh Thuận phủ Hoài Đức 22 dặm.
Nguyên là đất quận giao chỉ đời Hán, từ đời Trần trở về trước là châu Phúc Yên, lãnh 3 huyện, đời lê Quang Thuận đặt tên phủ hiện nay, thuộc thừa tuyên Sơn Nam, vẫn lãnh 3 huyện, năm Cảnh Hưng thứ 2 thuộc lộ Sơn Nam, đời Tây Sơn thuộc trấn Sơn Nam Thương. Bản triều đầu Gia Long vẫn theo như thế, năm Minh Mệnh thứ 3 thuộc trấn Sơn Nam, năm thứ 12 đổi lên tỉnh Hà Nội. Phủ Thường tín đất đai bằng phẳng rộng rãi, không có núi rừng ngăn cách, gồm 3 huyện thì cả 3 huyện đều nổi tiếng về văn chương. Huyện Thượng Phúc thì nổi trội hơn cả, huyện có đến 13 người đỗ các danh hiệu tiến sĩ, thái học sinh, cử nhân trong các triều vua từ năm 1334-1903.
Huyện Thượng Phúc: đông tây cách nhau 20 dặm, nam bắc cách nhau 23 dặm, phía đông giáp sông Nhĩ Hà, bờ đối diện là xã Vinh Hưng huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, phía tây giáp các xã Từ Châu, Ước Lệ, Minh Thuỵ, Phúc Lâm huyện Thanh Oai phủ Ứng Hoà cùng các xã Xà Cầu, 15 Phú Lương huyện Sơn Minh, phía nam giáp các xã Phú Mỹ, Phủ Chuẩn, Tri Chỉ huyện Phú Xuyên, phía bắc giáp xã Hoàng Xá, Yên Phú, Nguyệt Áng huyện Thanh Trì. Huyện Thượng Phúc thời Lý - Trần là Châu Thượng Phúc, thời thuộc Minh đổi làm huyện Bảo Phúc thuộc châu Phu Yên, từ nhà về sau lại đặt làm huyện Thượng Phúc gồm có: Tổng Cổ Hiền: 1. Nhị Khê Thượng Đình 2. Nhị Khê Hạ Đình 3.
Nhan Hiền Tổng Thượng Cung: 1. Thượng Cung 7. Đinh Quán Tổng Hà Hồi: 1. Phương Quế 4.
Quất Lâm Tổng Chương Dương: 1. Chương Lộc 2. Tự Nhiên Châu 4. Chương Dương 5.
Cát Bì Tổng Bình Lăng: 1. Phương Giai 7. Tử Dương Tổng La Phù: 1. Phác Động Tổng Triều Đông: 1.
Yên Cốc Tổng Động Cứu: 1. Cao Xá Tổng Phượng Vũ: 1. Trình Viên 7. Trình Viên (Đường Trung) 8.
Phúc Túc Tổng Tín Yên: 1. Lưu Khê Tổng Vạn Điểm: 1. Văn Tự Tổng Thuỵ Phú: 1. Già Khê Năm Minh Mệnh 12 phủ thường tín thuộc tỉnh Hà Nội, vẫn gồm 3 huyện thượng phúc, Thanh Oai, Phú Xuyên thời pháp phủ Thường Tín thuộc tỉnh Hà Đông, gồm 12 tổng, 90 xã.
Tổng Bình Lăng: 9 xã 7. Tổng La Phù: 9 xã 2. Tổng Triều Đông: 4 xã 8. Tổng Phượng Vũ: 9 xã 3.
Tổng Chương Dương: 9 xã 9. Tổng Thuỵ Phú: 6 xã 4. Tổng Cổ Hiên: 9 xã 10. Tổng Thượng Cung: 8 xã 5.
Tổng Đông Cửu: 6 xã 11. Tổng Vạn Điểm: 7 xã Trong đó tổng Bình Lăng, gồm 9 xã thôn (1): 1. Xã Tử Vân Từ sau cách mạng tháng 8-1945 huyện Thượng Phúc trở thành 1 huyện của tỉnh Hà Tây, đổi tên thành huyện Thường Tín. Ngày 1-8-2008 toàn bộ tỉnh Hà Tây sát nhập với thủ đô Hà Nội, cho nên giờ Thường Tín thuộc Hà Nội.
Địa giới huyện Thường Tín hiện nay như sau: địa giới đông đến sông Hồng, tây giáp huyện Thanh Oai, nam giáp huyện Phú Xuyên, bắc giáp huyện Thanh Trì. Địa hình đất đai cao ráo bằng phẳng, thuận lợi cho người dân trong việc phát triển nông nghiệp cả trồng lúa và các loại hoa màu. Phía bắc là đường 71, phía nam là đường 73 chạy song song ngang qua các làng trong huyện, nối liền đường 22 với quốc lộ 1A và đê sông Hồng. Chia thường tín thành nhiều khu vực nhỏ, tạo thành một hệ thống buôn bán, hình thành lên những trung tâm hàng hoá như: chợ Vồi, chợ Bằng, … Xã Quất Động nằm ở phía nam huyện Thường Tín, phía bắc giáp Hà Hồi, phía nam giáp xã Thắng Lợi, phía đông giáp xã Chương Dương, phía tây giáp xã Nguyễn Trãi.
Có diện tích 30 mẫu đất ở, 220 mẫu đất canh tác, được sông 18 Hồng hàng năm bồi đắp một lượng phù sa rất lớn. Địa hình, đất đai, khí hậu làng Quất Động chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên vùng châu thổ sông Hồng. Lịch sử và dân cư 1. Lịch sử Theo cuốn Quất Động Bùi Trần Đệ phả thì chỉ ghi chép được từ đời Trần Khải 1606, ông đỗ tiến sĩ đời Lê Chân Tông niên hiệu Dương Hoà thứ 2 năm 1636.
Trong cuốn sách “Hợp biến thể họ Mạc” của Ban liên lạc họ Mạc – NXB Văn Hoá ấn hành năm 2001 có ghi chép lại những biến cố của dòng họ từ khi Hiến Tông Mạc Phúc Hải qua đời. Để tránh bị diệt vong, dòng họ này đã tìm nơi lánh nạn. Một số thì trở về Hải Dương, một số chạy lên Cao Bằng, trong đó bà Bùi Thị Ban thứ phi của Mạc Hiến Tông đem con trai của mình là Mạc Phúc Đăng mới lên 5 tuổi về quê ngoại ở Quất Động và tính đến nay khoảng hơn 15 đời. Hiện nay do những ghi chép để lại còn hạn chế nên hiện nay ở Quất Động không còn nhiều thư tích liên quan đến quá trình hình thành và lập làng.
Tuy nhiên trong thực tế nói đây là vùng đất cổ lâu đời của huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây (nay đã thuộc Hà Nội). Phía đông của làng Quất Động giáp ranh với Chương Dương, nơi có bến Chương Dương (Chương Dương Độ) gắn liền với một sự kiện lịch sử quan trọng. Trong cuộc chiến chóng quân Nguyên Mông thế kỷ XIII tại bến Chương Dương quân nhà Trần đã lập lên chiến công vang dội, được sử sách mô tả khá chi tiết và giành cho những lời ca tụng xứng đáng. Địa danh Chương Dương còn được nhắc nhiều trong bộ địa lý học lịch sử, trong thi phẩm của các thi nhân đời sau.
Tác giả Ninh Tốn (Đỗ tiến sĩ năm 1778) đã có vài đoạn thơ như sau: “Triệu phát Nhị Hà Tân Mộ bạc Chương Dương Độ Chương Dương thuỷ thanh liên 19 Thảo, thụ, yên, hà cổ Nhân tụng “đoạt sáo” thi Hốt tưởng Đông A Độ Đông A trừng hưng gian Nguyên binh tự phong vũ Tức Mặc kim âu dương Chiêu lăng thạch mã lộ Thao thao nhục thực nhân Ngột toạ diện như thổ Hiền tài Hưng Đạo Vương Thân gia tổng bất cố …. ” Dịch nghĩa: Buổi sớm xuất phát từ bến Nhị Hà Bươi chiều đậy thuyền ở bến Chương Dương Nước Chương Dương gợn sóng xanh Có cây, khói, ráng như xưa Nhân đọc câu thơ “đoạt giáo” Bỗng nghĩ đến cơ nghiệp nhà Trần Trong đời Hùng Vương nhà Trần Quân nguyên như gió bão ập sang Âu vàng tức Mặc bị tổn thương Ngựa đá chiêu Lăng tức giận Trong triều đầy những người hèn Ngồi trơ ra mặt xám như đất Giỏi thay Hưng Đạo Vương 20 Thân mình nhà mình đều không nghĩ đến” Phía tây của làng Quất Động là xã Nguyễn Trãi, nơi đây nổi tiếng với kiến trúc tôn giáo nghệ thuật thời Lý, đó là chùa Đậu. Được trùng tu vào thời Trần, Lê, Nguyễn, nơi đây lưu dấu tích kiến trúc và nhiều di vật của các triều đại Trần Lê Nguyên như: chiếc khánh đồng lớn triều Lê Cảnh Hưng năm thứ 35 (1771). Đặc biệt hơn nơi đây có 2 pho tượng bó cốt của 2 thiền sư Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh được các nhà khảo cổ phát hiện năm 1983.
Ngoài ra chùa Đậu còn là di tích thờ pháp vũ, một nữ thần trong hệ thống thờ Tứ Pháp ở Việt Nam: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Hàng năm chùa Đậu thường tổ chức lễ hội vào các ngày từ mùng 7 – 10 âm lịch, lôi kéo rất nhiều du khách thập phương về dự lễ hội. Phía bắc làng Quất Động giáp xã Hà Hồi, nơi diễn ra trận Ngọc Hồi - Đống Đa nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. Người anh hung áo vải Quang Trung đã phá tan đồn Ngọc Hồi về giải phóng Thăng Long đúng vào những ngày đầu xuân Ất Dậu.
Nằm trong vùng đất có bề dày lịch sử văn hoá lâu đời như thế, có thể nói đến nay làng Quất Động ít nhất đã tồn tại khoảng 7 – 8 thế kỷ và có thể xa hơn nữa. Dân cư Từ sau cách mạng Tháng 8 -1945 xã Quất Động có 9 thôn: Quất Tỉnh Quất Lâm Đức Trạch Đô Quan Nguyên Xá Bì Siêu Hương xá 21 Từ năm 1954 gồm 8 thôn: Quất tỉnh, Quất Lâm, Đức Trạch, Đô Quan, Nguyên Xá, Hướng Bì. Năm 1965 – 1975 thuộc Hà Tây, năm 1976 – 1990 thuộc Há Sơn Bình, năm 1991-2008 thuộc Hà Tây1. Tính đến cuối năm 2001 toãn xã có hơn 8000 nhân khẩu, 412 hộ, 1630 nhân khẩu.
Diện tích 30 mẫu đất ở, 220 mẫu canh tác, diện tích bình quân trên đầu người 1, 3 sào/1 người. Ở Quất Động có 13 dòng họ khác nhau: Bùi Trần, Phạm Viết, Bùi Lê, Trịnh Đình, Bùi Thiên, Bùi Đăng, Trần Đình, Vũ Văn, Nguyễn Văn, Phạm Duy, Họ Hoàng và Trương Ngô. Trong đó đông nhất là họ Bùi Trần. Truyền thuyết tổ nghề Người truyền nghề thêu cho làng Quất Động là ông Lê Công Hành.
Ông là một viên quan thượng thư triều Lê, là người làng Quất Động. Sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, ông được vua Lê Thái Tổ cử làm người dẫn đầu sứ đoàn sang Trung Quốc. Bị người Minh dấu nhốt trên lâu cao, nơi chỉ có một toà tượng phật, một bát hương, một vò nước trong, 2 chiếc lọng. Ông đã bẻ tượng làm bằng bột ra ăn rồi uống nước trong vò để qua cơn đói.
Thời gian ông ở trên lầu ông đã xem kĩ cách thức chế tạo thêu thùa trên 2 chiếc lọng. Sau khi thức ăn và nước uống cũng đã cạn ông nắm chặt hai tay 2 lọng rồi nhảy xuống mà không bị sao.