MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu Thành phố Long Xuyên cùng với Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá có vị trí chiến lược bao quát toàn vùng tứ giác Long Xuyên. Thành phố Long Xuyên nằm ở hữu ngạn sông Hậu dọc theo quốc lộ 91, kéo dài từ kênh Cái Sắn đến thị trấn An Châu huyện Châu Thành. Thành phố là trung tâm kinh tế, chính trị, quốc phòng của Tỉnh An Giang, là đầu mối giao thông thuỷ với Campuchia, đồng thời là điểm dừng của khách du lịch từ Thành phố Hồ Chí Minh sang Campuchia cũng như các danh lam thắng cảnh của tỉnh An Giang như Núi Sam, Núi Cấm – Châu Đốc. Với những thế mạnh này, Thành phố Long Xuyên đang phát triển nhanh chóng về mọi mặt.
Cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao. Cùng với tốc độ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng của Thành phố việc đầu tư cơ sở hạ tầng phải được chú trọng để tạo nền tảng vững chắc và đẩy mạnh tốc độ phát triển của Thành phố. Một trong những mảng vô cùng quan trọng của cơ sở hạ tầng là hệ thống cấp và thoát nước cần phải được quan tâm và đầu tư đúng mức để có thể đáp ứng được các nhu cầu ở hiện tại cũng như là trong tương lai. Luận văn tốt nghiệp của em mong được góp một phần phục vụ mục đích trên.
Tuy nhiên, trong giới hạn của một luận văn tốt nghiệp em chỉ trình bày phần tính toán thiết kế trạm xử lý nước cấp cho Thành Phố Long Xuyên đến năm 2020.2 Mục tiêu luận văn: Đề xuất phương án thiết kế trạm xử lý nước cấp nhằm cung cấp đầy đủ nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho các nhu cầu sử dụng nước của Thành Phố Long Xuyên, phù hợp với quy hoạch chung và các giai đoạn phát triển của Thành Phố đến năm 2020.3 Nội dung luận văn: Thu thập các tài liệu : o Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của Thành phố Long Xuyên. o Phương hướng phát triển của Thành phố đến năm 2020. o Chất lượng và trữ lượng các nguồn nước trong khu vực thành phố. o Hiện trạng cấp nước và nhu cầu dùng nước.
o Công nghệ xử lý nước hiện tại của Thành Phố Nghiên cứu lựa chọn nguồn nước và công nghệ xử lý Tính toán thiết kế trạm xử lý Tính toán kinh tế Thực hiện bản vẽ.4 Phương pháp thực hiện: Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu. Phương pháp tổng hợp và xử lý các số liệu có liên quan. Phương pháp so sánh để tìm ra phương án tối ưu. Phương pháp tính toán thiết kế.
Phương pháp tham khảo ý kiến. Phương pháp bản đồ, bản vẽ. 5 CHƯƠNG 2 : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THÀNH PHỐ LONG XUYÊN 2.1 Các điều kiện tự nhiên 2.1 Vị trí địa lý Thành phố Long Xuyên có diện tích 106,87 km2, nằm ở hữu ngạn sông Hậu dọc theo Quốc lộ 91, kéo dài từ kênh Cái Sắn đến thị trấn An Châu huyện Châu Thành – Tỉnh An Giang. Thành phố gồm 9 phường, 3 xã có toạ độ địa lí như sau : 10018’ – 10026’ vĩ Bắc 105021’ – 105030’ kinh Đông Phạm vi ranh giới của thành phố Long Xuyên : Bắc giáp huyện Châu Thành tỉnh An Giang.
Tây Nam giáp huyện Thoại Sơn – Tỉnh An Giang. Nam giáp huyện Thốt Nốt – Tỉnh Cần Thơ, Huyện Lấp Vò – Tỉnh Đồng Tháp. Đông giáp huyện Chợ Mới cách dòng sông Hậu.2 Điều kiện địa hình Địa hình Thành phố Long Xuyên tương đối bằng phẳng và cao độ mặt đất tương đối thấp bị chia cắt bởi các kênh rạch, mương, liếp và ao hồ. Cao độ mặt đất trung bình từ 1m-2,5m.
Khu vực mặt đất có cao độ từ 2m-3m là khu vực nội ô gồm 2 phường Mỹ Bình – Mỹ Long và ven trục quốc lộ 91. Khu vực có cao độ mặt đất từ 1,5m-2,5m, phần lớn là ven các sông rạch chính như sông Hậu, rạch Long Xuyên và ven các trục lộ. Các khu vực còn lại có cao độ mặt đất nhỏ hơn 1,5m là các khu vực ruộng trắng và các khu vực cao độ nhỏ hơn 2m; các khu vực này thường bị ảnh hưởng ngập nước vào mùa lũ hàng năm.3 Điều kiện khí hậu Thành phố Long Xuyên chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm 270C.
Thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt : Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm 1500 mm.4 Điều kiện địa chất thuỷ văn Điều kiện địa chất Hiện nay chưa có mặt địa chất công trình toàn thành phố, nhưng qua một số hố khoan của các công trình đã xây dựng trong thành phố, địa chất công trình có các lớp đất như sau : Lớp 1 : Lớp đất đá gồm cát gạch vụn. Lớp 2 : Đất sét màu xám lẫn nhiều chất hữu cơ và bột cát ở trạng thái dẻo nhão, có chỗ là dạng bùn sét. Lớp 3 : Đất sét màu xám lẫn đất bột cát nhuyễn trạng thái chảy dẻo đến dẻo nhão.
Lớp 4 : Cát hạt mịn màu xám xanh, có chỗ lẫn bùn, trạng thái chặt. Mực nước ngầm mạch nông dao động cách mặt đất trung bình từ 1,7m đến 2,2m. Điều kiện thuỷ văn Mạng lưới sông rạch trong khu vực thành phố Long Xuyên và chế độ thuỷ văn Long Xuyên gồm : Sông Hậu là sông lớn của đồng bằng Nam Bộ, đoạn chảy qua địa phận thành phố Long Xuyên dài 15 km, chiều rộng trung bình từ 800-1000m. Sông Hậu là nguồn cung cấp nước ngọt cho các tỉnh hạ lưu của sông Hậu.
Chế độ thuỷ văn của Long Xuyên phụ thuộc vào thuỷ văn của sông Hậu theo chế độ bán nhật triều không đều. Rạch Long Xuyên : Chiều dài chảy qua thành phố là 11 km, chiều rộng trung bình từ 80-100m. Hiện nay rạch Long Xuyên đang có hiện tượng bồi lắng. Hai bên đôi bờ có hiện tượng xói lở như đoạn ven đường Bùi Văn Danh.
Ngoài hai sông rạch chính này trong khu vực thành phố còn có một số kênh rạch khác như : Rạch Cầu Mây, Rạch Gòi Lớn, Gạch Gòi Bé, Rạch Cái Ông, Rạch Cái Sơn, Rạch Trà Ôn, Rạch Bà Bầu. Chế độ thuỷ văn tại Long Xuyên cũng như một số tỉnh khác của Nam Bộ chịu ảnh hưởng lũ của hệ thống sông Cửu Long. Mùa lũ thường bắt đầu từ tháng 8 kéo dài đến tháng 11 hàng năm, gây ngập úng và khó khăn cho việc thoát nước của đô thị vào mùa mưa. Mực nước lũ cao nhất vào tháng 10 hàng năm.
Trong đó mực nước lũ cao nhất: + Năm 1961 : +2,89m + Năm 1996 : +2,42m + Năm 2000 : +2,62m + Năm 2002 : +2,54m 7 2.2 Các điều kiện kinh tế - xã hội 2.1 Điều kiện kinh tế Thành phố Long Xuyên là thành phố nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên ( Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá ), với đặc trưng của nền kinh tế gồm cả sản xuất nông nghiệp, thương mại dịch vụ và công nghiệp nhỏ cùng với tiểu thủ công nghiệp cùng song song tồn tại và phát triển. Nông nghiệp Tổng diện tích gieo trồng năm 1990 khoảng 13. Tuy diện tích gieo trồng đã giảm dần nhưng tổng sản lượng thực lại tăng như sau : Bảng 2.1 Năm Diện tích gieo trồng Tổng sản lượng lương thực 1995 13.739 tấn Ngành chăn nuôi chủ yếu là kinh tế gia đình, chăn nuôi công nghiệp mới hình thành với các xí nghiệp chăn nuôi thuộc Sở Nông Nghiệp bố trí tại khu vực Vàm Cống. Công nghiệp Theo niên giám thống kê năm 2002, thành phố Long Xuyên có 1922 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, trong đó có : + Công nghiệp khai thác : 7 cơ sở + Công nghiệp chế biến : 1902 cơ sở + Công nghiệp sản xuất và phân phối nước : 3 cơ sở Loại hàng công nghiệp khai thác than đá, công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống, công nghiệp dệt, sản xuất hàng da, gỗ, giấy, hoá chất, cao su, kim loại, máy móc thiết bị điện.
Các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp do Trung ương và địa phương quản lý, ngoài ra còn có 2 cơ sở công nghiệp do nguồn vốn nước ngoài đầu tư. Tổng sản lượng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của thành phố tính đến năm 2002 đạt 778 tỷ đồng. Thương mại, dịch vụ : Trong lĩnh vực này kinh tế quốc doanh không phát triển, đến năm 2002 chỉ còn 12 cơ sở do nhà nước quản lý. Trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh tính đến năm 2002 đã có 14.651 cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực này do tư nhân và cá thể đầu tư, quản lý.
8 Mức độ tăng trưởng về kinh tế : Nhìn chung các ngành kinh tế của thành phố trong các năm qua có mức độ tăng trưởng khá : Nông nghiệp : 9,34% Công nghiệp – xây dựng : 34,92% Thương mại – dịch vụ : 55,74% 2.2 Điều kiện xã hội Hiện tại thành phố Long Xuyên gồm 9 phường là : Bình Đức, Bình Khánh, Mỹ Bình, Mỹ Long, Mỹ Xuyên, Mỹ Phước, Mỹ Quý, Mỹ Thới, Mỹ Thạnh và 3 xã Mỹ Hoà Hưng, Mỹ Khánh và Mỹ Hoà. Trong đó có các cơ sở y tế, giáo dục và đào tạo như sau Giáo dục : Tính đến năm 2002 toàn thành phố có 47 trường tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông trung học, 1255 lớp học với số học sinh đến trường là 46. Thành phố Long Xuyên có 12/13 phường, xã được công nhận xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Y tế : Toàn thành phố có 1 phòng khám khu vực, 10 trạm y tế xã phường, công tác y tế được thực hiện khá tốt với việc chăm sóc sức khoẻ và khám chữa bệnh cho người dân ngày càng được nâng cao.
Các chương trình y tế quốc gia được triển khai và thực hiện khá tốt. Hoạt động văn hoá, thể thao : Về văn hoá : Thành phố có 12 đài truyền hình của 12 phường xã, 321 loa truyền thanh, 19 đội văn nghệ, 21 điểm xem tivi công cộng. Về thể thao : Thành phố có 14 sân bóng đá, 37 sân bóng chuyền, 2 nhà thể thao, 2 sân vận động, 1 bể bơi.3 Dân số Theo niên giám thống kê 2003, dân số toàn thành phố đến năm 2003 là 263. Trong đó dân số chia theo khu vực thành thị ( 9 phường ) là 203.263 người và khu vực nông thôn (3 xã) là 60.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm dần: Năm 1995 là 14,5 ‰ Năm 2000 là 12,67 ‰ Năm 2002 là 12,37 ‰ Năm 2003 là 12,28‰ Biến động dân số cơ học trong các năm vừa qua không lớn.