CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG DỆT CHIẾU BÌNH AN Trong chương này, nhóm tác giả sẽ trình bày một cách khái quát về điều kiện tự nhiên của vùng đất Bình An, đồng thời cung cấp cho người đọc thấy một cách khái quát về làng nghề dệt chiếu Bình An từ hình thành cho đến bây giờ. Lịch sử làng dệt chiếu Bình An gắn liền với cuộc di cư năm 1954 của đồng bào Công giáo từ Bắc vào Nam. Chính vì vậy tác giả sẽ đi sâu miêu tả bối cảnh lịch sử thời kì này qua kí ức của những nghệ nhân dệt chiếu.1 Đặc điểm tự nhiên của làng dệt chiếu Bình An. Đặc điểm tự nhiên của phường 6, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh có sự khác biệt rất lớn giữa hai thời kì: trước năm 1986 và sau năm 1986.
Nguyên nhân của sự khác biệt này là do quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh và dân số ngày càng tăng. Làng dệt chiếu Bình An thuộc phường 6, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Phường 6 có diện tích khoảng 162 ha, trải dọc hơn 2km men theo bờ nam của Kênh Đôi. Ranh giới phía đông giáp với phường Năm là cầu Nhị Thiên Đường.
Phía Tây ngăn cách với quận Bảy là cầu Bà Tằng – bắc qua rạch Bà Tằng. Phía nam giáp với huyện Bình Chánh. Địa danh Bình An được biết đến từ những năm sau cuộc di dân năm 1954 cùng với những địa danh khác như Bình Thái, Bình An Thượng, Bình Thuận, Bình Sơn, Bình Xuyên. Đó là những nhóm dân cư sống xung quanh những nhà thờ Công giáo dọc theo đường Phạm Thế Hiển.
Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, những địa danh này vừa đóng vai trò là một cộng đồng Công giáo, thực hiện các nghi lễ tôn giáo vừa là những đơn vị hành chính. Những hộ dân từ số nhà 2016 trở về cầu Nhị Thiên Đường sinh hoạt tôn giáo ở nhà thờ Bình Thái, còn những gia đình từ tiệm thuốc tây Minh Quang số nhà 2017 trở về 15 cầu Bà Tàng thì sinh hoạt ở nhà thờ Bình An. Như vậy việc khảo sát nghề dệt chiếu của tác giả sẽ đặt trọng tâm vào những gia đình thuộc về giáo xứ Bình An. Trước năm 1986, dân cư ở đây rất thưa thớt, chỉ sống ở ven đường Phạm Thế Hiển, và vào sâu hơn con đường này khoảng một trăm mét.
Theo ông Giáp: “Hai giáo xứ thuộc phường 6 là Bình Thái và Bình An, mỗi giáo xứ chỉ vỏn vẹn khoảng 200 gia đình cộng cư xung quanh hai nhà thờ”. Vào thời điểm này chính quyền kiểm soát về dân cư còn đất đai thì không có sự kiểm soát, người dân có thể khai phá tự do để làm nông nghiệp tùy theo sức lực của từng hộ gia đình, gia đình nào có lực lượng nhân công lớn thì khai phá nhiều. Lượng đất đai hoang hóa không sử dụng thời kì đó vẫn rất lớn, còn nhiều bãi trũng nhiễm phèn với những bụi cây um tùm, đa phần là dừa nước. Giữa hai giáo xứ Bình An và Bình Thái có sự khác nhau về sản xuất nông nghiệp.
Đất đai ở Bình An trũng hơn có độ chua cao hơn nên được sử dụng chủ yếu cho việc trồng cói, còn Bình Thái đất đai đỡ bị nhiễm phèn thì tập trung chủ yếu vào việc trồng lúa và rau muống. Giai đoạn 1975 – 1986, đất đai ở đây có sự biến đổi về mặt quản lý. Sau giải phóng, đất nông nghiệp ở phường 6 được đặt hoàn toàn dưới sự quản lý của nhà nước. Diện tích đất trồng cói được thu hồi bởi Tập đoàn cói Chiến Thắng, còn đất trồng lúa và đất trồng rau muống thì tập trung trong Tập đoàn Nông nghiệp lúa rau.
Đến năm 1983, hai tập đoàn này được xác nhập làm một, lấy tên là Hợp tác xã Nông nghiệp Chiến Thắng. Đất nông nghiệp vẫn được đặt dưới sự quản lý của tổ chức này. Cơ cấu đất nông nghiệp được mở rộng thêm diện tích đất mặt nước để nuôi cá. Sau năm 1986, phường 6 dần xóa bỏ cơ chế quản lí bao cấp.
Đất nông nghiệp được phân chia lại cho những thành viên của Hợp tác xã. Những thành viên nào không muốn làm nông nghiệp thì có thể bán lại đất cho Hợp tác xã. Chính vì thế mà phần lớn hộ gia đình này khi được chia đất đã bán lại cho hợp tác xã để có vốn đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh khác, hay tìm kiếm việc làm, bỏ làm nông nghiệp. 16 Cũng từ sau đổi mới, người dân toàn Việt Nam được tự do di chuyển từ nông thôn đến thành thị để sinh sống.
Do vậy sự gia tăng dân số cơ giới ở các thành phố rất lớn, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh hưởng của sự gia tăng dân số tác động không nhỏ đến sự thay đổi của cơ cấu đất đai phường 6: Nhiều diện tích đất nông nghiệp bị san lấp để phục vụ cho mục tiêu nhà ở, đất thổ cư cũng được sử dụng rất nhiều vào mục đích kinh doanh nhà trọ. Anh Trần Thanh Sơn, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường 6 cho biết mục tiêu đến năm 2015 phường 6 sẽ đô thị hóa hoàn toàn để hòa vào cùng với khu đô thị Nam Sài Gòn. Do vậy, phường chủ trương ra sức thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân vào địa bàn của phường.
Phần lớn diện tích đất trước đây được dùng để sản xuất nông nghiệp thì nay quy hoạch thành lô và bán lại cho các doanh nghiệp. Mỗi lô đất như vậy đều đã được sở hữu bởi một doanh nghiệp. Diện tích trồng lúa và cói sau năm 1986 đã giảm dần và cho tới ngày nay thì không còn nữa. Công việc chủ yếu của Hợp tác xã Nông nghiệp Chiến Thắng hiện nay là quản lý và phân phối nguồn nước, nắm lại những mảnh đất nhỏ lẻ đã được cắt ra bởi các doanh nghiệp để giao cho người dân trồng rau hoặc nuôi cá.
Diện tích đất nông nghiệp ở phường 6 được chuyển đổi mục đích sử dụng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự mất đi của làng dệt chiếu Bình An, do nguồn nguyên liệu tại chỗ không còn để phục vụ cho việc dệt chiếu của người dân nữa. Sự hình thành cộng đồng cư dân Bình An. Sự hình thành cộng đồng cư dân Bình An gắn liền với quá trình di dân năm 1954. Cuộc di cư của những gia đình theo đạo Công giáo từ miền Bắc vào miền Nam vào thời điểm đó là một sự kiện quan trọng của lịch sử Việt Nam.
Với phạm vi của đề tài nghiên cứu, nhóm tác giả tập trung trình bày cuộc di dân trong trường hợp làng dệt chiếu Bình An. Những cư dân đến Bình An vào năm 1954 hầu hết là người dân tỉnh Ninh Bình, phần đông là huyện Kim Sơn, đặc biệt là những gia đình sinh sống xung quanh nhà thờ 17 Phát Diệm. Người dân di cư lúc đó bao gồm nhiều thành phần khác nhau như: tri thức, nông dân, thợ thủ công và cả sĩ quan người Việt từng đi lính cho Pháp. Trước lúc ra đi người dân đã cảm thấy bất an đến từ bối cảnh xã hội miền Bắc.
Theo lời kể lại của những nghệ nhân dệt chiếu đã trải qua cuộc di dân ấy thì: Nạn đói năm 1954 vẫn còn ám ảnh cư dân ở đồng bằng Bắc bộ. Những người thân của họ đã chết trong nạn đói đó cho đến thời điểm 1954 vẫn khiến họ phải kinh hoàng. Năm 1954, nhiều nơi bị trưng thu lương thực, đất đai vì thế người ta lại sợ cái đói quay trở lại với nơi mà họ sinh sống và cướp đi tính mạng của con người. Một nguyên nhân khác khiến họ muốn ra đi là họ lo sợ chiến tranh sẽ xảy ra.
Ông Chính nói rằng câu nói mà họ nghe thấy mỗi ngày là “sắp có đánh nhau”, điều đó khiến họ lo sợ và cảm thấy không an toàn trên chính mảnh đất mà ông cha họ đã sinh sống lâu đời. Theo sự giới thiệu của các vị linh mục về mảnh đất Nam bộ, họ hướng niềm tin của mình về một vùng đất mới. Ông Vạn nhớ lại lời của một vị linh mục: Đó chính là một nơi có đất đai màu mỡ và rộng lớn, trái hoàn toàn với nơi đất chật người đông mà họ đang sinh sống. Nơi đó ai khai thác được bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu, không ai chiếm đoạt của ai cả.
Giữ một niềm tin như vậy nên họ quyết tâm từ bỏ quê hương để ra đi. Vì cuộc ra đi của họ diễn ra trong thời chiến nên bị chính quyền kiểm soát rất nghiêm ngặt. Bác Thanh, 65 tuổi kể lại: “Lúc đó, bác 18 tuổi, nếu có ai hỏi Bác đi đâu thì bác trả lời là đi thăm bà con trong kia (miền Nam)”. Bà Lý thì: “Tôi vào trong đó kêu mấy anh tôi về đoàn tụ với gia đình”.
Cứ như thế, họ phải nói dối để có thể vào Nam. Hành trang mà những người dân mang theo chỉ có mấy thứ gọn nhẹ như quần áo, đồ trang sức, vàng bạc. Họ không mang theo tiền vì đồng tiền mà họ mang theo từ miền Bắc vào trong Nam sẽ không sử dụng được. Ngoài những thứ đó thì họ không mang theo được gì khác để tránh sự phát hiện.
Ông Chính kể lại: “Có rất nhiều những chuyến ra đi như vậy, mỗi chuyến đi có một con tàu của Mĩ đậu ở bờ biển Ninh Bình để chở người dân. Nếu ai đến bờ biển mà không gặp con tàu lớn đó thì đành phải quay về chờ chuyến sau. Khi nào có tàu thì sẽ có 18 người bí mật thông báo. Mỗi con tàu chở được chừng hơn 300 dân, lênh đênh trên biển khoảng một tuần thì vào đến Sài Gòn”.
Sau chuyến đi dài ngày đó, cuối cùng họ cũng đến được bờ biển Sài Gòn. Những sĩ quan trên tàu đưa họ men theo những con sông vào tận đến chợ Lò Than. Những người ra đi trên những chuyến tàu đó được cấp cho mỗi người bảy trăm đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa và sáu tháng gạo ăn để an cư lập nghiệp trong khoảng thời gian đầu tiên mới đến vùng đất mới. Có sẵn tiền bạc và lương thực, những thanh niên khỏe mạnh đi vào rừng ở Tây Ninh để làm gỗ như ở trường hợp ông Giáp.
Một số thì đi làm việc ở những hãng, xí nghiệp của Mĩ, Nhật; một số thì đi vào nội thành Sài Gòn để bốc vác hoặc phụ hồ. Những người nói trên chủ yếu là những người trẻ, có sức khỏe. Những người còn lại trong gia đình như già, phụ nữ có thai, trẻ em và những người có khả năng lao động kém thì ở lại khu vực Bình An, Bình Thái để trồng lúa, rau và cói.