Chương 1: TỔNG QUAN 1. Yêu cầu thực tế và lý do chọn đề tài: Trong những năm gần đây, sự phát triển của công nghệ thông tin đã và đang làm thay đổi toàn bộ thế giới.Mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực như kinh tế, y khoa, công nghiệp…dần dần được tin học hóa và làm cho công việc trở nên dễ dàng, nhanh chóng, chính xác hơn. Đặc biệt trong công tác giáo dục, việc tin học hóa góp phần nâng cao chất lượng Giáo dạy và học.Trong khoa cử cũng vậy, để đảm bảo chất lượng của một kỳ thi, tính khách quan, chính xác và khoa học phải được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh đó, ta không thể không quan tâm đến vấn đề đặt ra là làm cách nào quản lý một khối lượng câu hỏi khổng lồ đồng thời làm sao tạo đề thi một cách ngẫu nhiên theo các tiêu chí định sẵn trong thời gian ngắn mà đạt được tính chính xác cao.
Sự kết hợp giữa phương pháp thi trắc nghiệm và tin học không những đáp ứng được các yêu cầu đó mà còn giúp tiết kiệm được chi phí tổ chức thi và thời gian công sức của các Giáo viên ra đề mà kết quả đạt độ nhanh chóng và chính xác cao.Bên cạnh đó, sinh viên có thể biết điểm thi ngay khi làm bài thi xong. Đồng thời, việc tổ chức thi trắc nghiệm chưa được sử dụng phổ biến ở bậc Đại Học.Ví dụ như ở Trường Đại H ọc Tôn Đức Thắng thì việc thi cử vẫn còn áp dụng hình thức thủ công trong việc tạo đề cũng như tạo câu hỏi. Trong thời điểm hiện nay, hình thức thi trắc nghiệm cũng trở nên quên thuộc nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định như đa số sử dụng hình thức thi trắc nghiệm trên giấy là chủ yếu nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc soạn câu hỏi, lưu trữ, soạn đề, tạo đề, chấm điểm … Tuy nhiên để có thể áp dụng hình thức thi trắc nghiệm thì phải có một tập hợp lớn các câu hỏi trắc nghiệm, bên cạnh đó yếu tố soạn, tạo đề cũng không kém phần quan trọng. Tuy nhiên với sự trợ giúp của máy vi tính, các vấn đề nêu trên sẽ được giải quyết một cách triệt để và hiệu quả.
Đó là lý do vì sao “Chương trình quản lý thi trắc nghiệm ở trường Đại học” ra đời.Nhìn chung, phương pháp thi trắc nghiệm đang là xu hướng trong đào tạo. Phân tích hiện trạng: Hiện trạng, quy trình từ lúc soạn thảo cho đến lúc thi và chấm bài trắc nghiệm được tổ chức như sau: Các Giáo viên được chỉ định thực hiện việc soạn thảo các câu trắc nghiệm. Các Giáo viên nộp về Văn Phòng Khoa ,Giáo Vụ tập hợp lại các câu hỏi. Khoa sẽ chọn ra các câu hỏi theo các yêu cầu, tiêu chí định sẵn và các câu hỏi sẽ được chọn lọc sẽ được xáo trộn để tạo ra các đề thi khác nhau.
Khoa thiết kế ra các bảng trả lời, các bảng đáp trả lời để phục vụ cho việc thi và chấm thi. Khoa nhận về kết quả thi của các thí sinh và thực hiện công việc đánh giá các câu hỏi trắc nghiệm và đề thi phát sinh. Hầu hết các giai đoạn của quy trình trên đều được thực hiện bằng thủ công nhất là giai đoạn: chọn câu hỏi, xáo trộn câu hỏi và đánh giá.Chính vì thế, công việc hết sức khó khăn và phức tạp. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1.
Mục Đích: Mục tiêu của đề tài đặt ra là xây dựng được hệ thống quản lý thi trắc nghiệm trong trường Đại học từ khâu soạn, hiệu chỉnh, lưu trữ câu hỏi cũng như tạo đề thi bằng Thuât toán lấy ngẫu nhiên trong Ngân Hàng Câu Hỏi, hiệu chỉnh, lưu trữ đề thi, việc tổ chức thi và báo cáo kết quả thi đưa đến đánh giá độ khó các câu trắc nghiệm cũng như đánh giá đề thi qua kết quả thi của Sinh Viên trong Kỳ Thi nhằm nâng cao chất lượng câu hỏi trắc nghiệm trong ngân hàng đề thi. Ví dụ : Hình thức thi trắc nghiệm trong trường Đại Học Tôn Đức Thắng cũng chưa được sử dụng phổ biến, chỉ áp dụng thi trắc nghiệm cho môn Anh văn mà việc soạn, tạo đề cũng chỉ thực hiện theo phương pháp thủ công (mọi thứ đều làm bằng tay).Riêng Khoa CNTT thì cũng mới áp dụng hình thức thi trắc nghiệm một số Môn Học. Từ những hiện trạng này mà “Chương trình quản lý thi trắc nghiệm ở trường Đại Học”của chúng em ra đời nhằm tin học hóa, tạo sự thuận lợi trong việc tổ chức các Kỳ thi bằng phương pháp Trắc Nghiệm. Đối tượng: Các đối tượng sử dụng trang Web này bao gồm Ban Quản Lý: Giáo viên, Giáo viên ra đề, Ban giáo vụ.
Phạm Vi: Xây dựng hệ thống quản lý thi trắc nghiệm từ khâu tạo câu hỏi đến khâu ra đề, lưu trữ câu hỏi, đề thi, tổ chức thi cử và xuất Báo Cáo đánh giá, thống kê. Tìm hiểu về cách đánh giá câu hỏi trắc nghiệm, đánh giá đề thi sau khi đã có kết quả làm bài của các Sinh viên và hổ trợ trong việc chấm bài thi. Phạm vi thực hiện của trang Web bao gồm: Các Danh mục Quản Lý : Giáo viên: Lớp Sinh viên: bao gồm quản lý bài thi của Sinh Viên tạo điều kiện trong việc phúc khảo. Môn học, Học phần.
Câu hỏi Kỳ Thi Đề Thi: Tạo Đề Thi bằng cách lấy ngẫu nhiên các Câu hỏi theo mức độ khó, theo Học Phần của Môn Học. Phân Quyền ra đề thi cho Giáo Viên. Tìm Kiếm : Đề Thi Câu Hỏi Thống kê, đánh giá độ khó của Đề thi qua thống kê tỷ lệ giỏi, khá, trung bình của Sinh viên khi thực hiện đề thi đó. Chương 2: GIỚI THIỆU về HỆ THỐNG THI TRẮC NGHIỆM 2.
Tìm hiểu về hệ thống thi trắc nghiệm: Qua quá trình tìm hiểu phương pháp thi trắc nghiệm và dùng thử một số phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính cho một số lĩnh vực khác nhau và chúng em rút ra một số đặc điểm chung như sau.Các hệ thống quản lý thi trắc nghiệm gồm 3 phần chính: Soạn, hiệu chỉnh và lưu trữ câu hỏi. Soạn, hiệu chỉnh và lưu trữ đề thi. Tổ chức thi và báo cáo kết quả. Giai đoạn soạn thảo câu trắc nghiệm Câu hỏi trong các ứng dụng thi trắc nghiệm thường có các dạng sau: Dạng văn bản có định dạng.
Dạng thuần văn bản. Câu hỏi có kết hợp giữa hình ảnh với văn bản có định dạng. Giai đoạn soạn thảo đề Các câu hỏi sau khi soạn thảo, hiệu chỉnh sẽ được lưu trữ đưa vào ngân hàng câu hỏi. Ngân hàng câu hỏi thường chứa một số lượng lớn câu hỏi.
Giáo viên sẽ soạn thảo đề thi dựa trên ngân hàng câu hỏi có sẵn.Các ứng dụng được khảo sát tự động phát sinh đề theo một yêu cầu nào đó của Giáo viên chẳng hạn như dựa trên tiêu chí mức độ khó, loại câu hỏi, chủ đề môn học … Sau khi công đoạn biên soạn, hiệu chỉnh đề hoàn tất, đề thi được lưu trữ và kết xuất dưới các dạng thi như: tập tin Word (dùng để phục vụ việc thi trên giấy), XML (thi trên máy), dạng HTML (trên Web). Hình thức thi: Có nhiều hình thức thi trắc nghiệm, ứng với mỗi loại kết xuất đề thi sẽ có các dạng thi như: thi trên giấy, thi trên web…Mỗi sinh viên chỉ thi trên một thể hiện đề thi. Một thể hiện của đề thi tương ứng với một trường hợp xáo trộn thứ tự câu hỏi trong đề thi. Hình thức thi này đảm bảo tính công bằng vì tất cả các sinh viên đều thi trên cùng một đề thi.
Có như vậy, mới đánh giá chính xác sức học thực sự của từng thí sinh. Hơn thế nữa, hình thức thi này tránh được tình trạng các thí sinh trao đổi trong khi làm bài đảm bảo tính khách quan, nghiêm túc trong thi cử. Bên cạnh đó, hình thức thi trắc nghiệm tạo được sự linh hoạt trong việc tổ chức thi, chấm điểm. Mục tiêu đề tài: Trước những yêu cầu thực tế về sự đa dạng trong soạn thảo câu hỏi và đề thi, sự linh hoạt trong tổ chức thi, đề tài đặt ra với mục tiêu: Xây dựng hệ thống hỗ trợ việc soạn thảo câu hỏi theo Loại câu hỏi và mức độ khó, quản lý các chủ đề của câu hỏi (Học phần của Môn Học) khả năng phát sinh đề thi dựa trên mức độ khó của Câu Hỏi và Học Phần của Môn học.
Bên cạnh đó, hệ thống còn bao gồm việc tổ chức thi, sắp xếp thời khoá biểu thi cho các Lớp (linh hoạt trong việc tổ chức thi như thi trên máy hoặc thi trên giấy), phân công giáo viên ra đề thi cho từng Môn học trong Học kỳ. Đồng thời hỗ trợ kết xuất báo cáo, tìm kiếm, phúc khảo Bài thi. Chương 3: GIỚI THIỆU về CÔNG NGHỆ ASP. Lịch Sử Phát Triển: Thời điểm Phiên bản Ghi chú Tính năng mới 16/1/2002 1.0 Phiên bản đầu tiên 24/4/2003 1.1 Phát hành cùng với Các điều khiển dành Windows 2003 Server cho di động 7/11/2005 2.0 Tên mã là Whidbey Các điều khiển dữ phát hành cùng với liệu mới (GridView, Visual Studio 2005 FormView, và SQL Server 2005 DetailsView) Các điều khiển chuyển trang Các trang master Các điều khiển Login Themes Skins Các phần của web 3.NET là gì? ASP.NET là tên mà Microsoft đặt cho việc kết hợp hai dòng công nghệ: WebForm và Web Services.NET được viết đầy đủ là Active Server Pages .NET ở đây là .NET là một công nghệ có tính cách mạng dùng để phát triển các ứng dụng về mạng hiện nay cũng như trong tương.NET là một phương pháp tổ chức hay khung tổ chức (framework) để thiết lập các ứng dụng rất mạnh cho mạng dựa trên CLR (Common Language Runtime) chứ không phải là một ngôn ngữ lập trình.
Hiện nay, có khoảng 25 ngôn ngữ để phát triển các trang ASP. Trong đó có các ngôn ngữ như C#, VB. Các tính năng của ASP.NET: Những phần thực thi được của ứng dụng Web được biên dịch, vì vậy chúng thực thi nhanh hơn là các kịch bản thông dịch. Truy cập tới .NET Framework, có thể đơn giản hóa nhiều khía cạnh trong lập trình Windows Giới thiệu ngôn ngữ lập trình mới mà nó cung cấp khả năng an toàn kiểu, hướng đối tượng, so với ngôn ngữ lập trình C.
Các tính năng bảo mật được xây dựng sẵn thông qua máy chủ Windows hoặc thông qua các phương thực xác nhận/phân quyền khác. Tích hợp chặt chẽ với ADO.NET để cung cấp các truy xuất CSDL và các công cụ thiết kế Cơ Sở Dữ Liệu trực quan trong bộ VisualStudio.