CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Ý thức Ý thức là phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.
Ý thức là “sự nhận thức đúng đắn, biểu hiện bằng thái độ, hành động phải có” (theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1988). Đây là nghĩa mà luận văn này sử dụng. Theo đó, nói đến ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của sinh viên là nói đến sự nhận thức, thái độ và hành động, hành vi của họ trong việc chấp hành luật giao thông đường bộ 1. Khái niệm nhận thức - thái độ Khái niệm thái độ liên quan đến khái niệm nhận thức bởi từ nhận thức thì con người nói chung mới có thái độ đánh giá về các vấn đề mà họ quan tâm, tiếp xúc, cũng như sự hài lòng hay không hài lòng của họ trong việc nhìn nhận một vấn đề, tiếp xúc một vấn đề Khái niệm nhận thức: Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy.
Quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó. Nâng cao nhận thức, có nhận thức đúng, những nhận thức sai lầm. Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, hành động), nó quan hệ chặt chẽ với mặt kia nhưng không ngang bằng về nguyên tắc. Nó cũng quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lý khác của con người.
Nhận thức là một quá trình; ở con người, quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức con người là một hoạt động. Đặc trưng nổi bật nhất của hành động, nhận thức của con người là phản ánh hiện thực khách quan. Hoạt động này bao hàm nhiều quá trình khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng Trang 11 tượng…) và mang lại những sản phẩm khác về hiện thực khách quan (hình ảnh, hiện tượng, biểu tượng, khái niệm). Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể đưa toàn bộ hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn lớn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
- Nhận thức cảm tính: là giai đoạn đầu sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con người. Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh những thuộc tính bên ngoài, cụ thể của sự vật và hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người. - Nhận thức lý tính: là phản ánh các thuộc tính bên trong những mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà con người chưa biết. Nhận thức có liên quan chặt chẽ với sự học và học thuật là một hoạt động nhận thức đặc biệt của con người.
Khái niệm thái độ: Thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó. Cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình. Thái độ học tập đúng đắn, thái độ hoài nghi, thiếu tin tưởng. Thái độ (với ý nghĩa attitude) của một cá nhân đối với một đối tượng là một trong những nhân tố chính gắn với cá nhân và quyết định ứng xử của cá nhân đối với đối tượng.
Tuy nhiên khái niệm thái độ không được định nghĩa thống nhất trong các ngành khoa học xã hội: chẳng hạn Allport nhấn mạnh phương diện điều khiển tiếp theo khi ông định nghĩa thái độ là “trạng thái suy nghĩ hay thần kinh của sự sẵn sàng phản ứng có ảnh hưởng điều khiển hoặc tạo động cơ thúc đẩy ứng xử và được cấu trúc qua kinh nghiệm”. Định nghĩa tổng quát nhất và phổ biến nhất là của Rosenberg và Horland đã bổ sung thành phần ứng xử cho thành phần nhận thức (tri thức về đối tượng thái độ) và thành phần cảm xúc (tỏ thái độ theo cảm xúc) khi gọi ba loại phản ứng chính đối với nhữnh kích thích nhất định là phản ứng về nhận thức, cảm xúc, ứng xử. Những nghiên cứu về thái độ trong một nhóm xã hội nào đó tức là thái độ đối với đối tượng xã hội, trước hết nghiên cứu các điều kiện thay đổi Trang 12 thái độ và mối liên quan giữa một mặt là thái độ và mặt kia là ứng xử khi nó bị thay đổi. Hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định (hành vi phạm pháp, hành vi tốt đẹp…) 1.
Luật giao thông đường bộ Luật Giao thông đường bộ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2002. Luật Giao thông đường bộ qui định những quy tắc giao thông đường bộ, các điều kiện bảo đảm an toàn giao thông đường bộ của kết cấu hạ tầng, phương tiện và người tham gia giao thông đường bộ, hoạt động vận tải đường bộ. Luật Giao thông đường bộ áp sụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động, sinh sống trên lãnh thổ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trong những trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có qui định khác với Luật Giao thông đường bộ thì áp dụng những qui định của điều ước quốc tế đó. Sinh viên Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng Latinh: chữ Student, có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, tìm hiểu khai thác tri thức.
Sinh viên là một bộ phận ưu tú trong thanh niên, là một tầng lớp xã hội được tuyển chọn qua thi cử, có sức khoẻ, có văn hoá, nhạy cảm với cuộc sống, được giáo dục rèn luyện và đào tạo chuẩn bị cho hoạt động lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn nào đó, là thế hệ kế thừa cho tương lai. Sinh viên là những người chuẩn bị để gia nhập vào đội ngũ tri thức xã hội.Lênin đã đánh giá: “Sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất của thế giới tri thức, là tầng lớp có trình độ tiên tiến nhất trong hàng ngũ thanh niên”. Sinh viên ở lứa tuổi chủ yếu từ 18 đến 25 tuổi. Đây là lứa tuổi đang trưởng thành về xã hội, chín muồi về thể lực, định hình về nhân cách và đang học tập tiếp thu những tri thức, kỹ năng của một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định với trình độ cao đẳng, đại học Trang 13 1.
Hành vi sai lệch Ta định nghĩa một ứng xử cá nhân hay tập thể là sai lệch nếu nó vi phạm những hy vọng đã thể chế hoá và/hoặc phạm vào các chuẩn mực của tập thể (hoặc qui định, qui tắc, nghị định) và/hoặc qua kiểm tra xã hội thấy phải có hình phạt. Có rất nhiều hiện tượng được gộp dưới khái niệm hành vi lệch chuẩn: lang thang, tấn công, tự tử, tội ác, tình trạng thanh thiếu niên phạm tội, vi phạm luật lệ, coi thường đạo lý. Một số hình thức hành vi lệch chuẩn là kết quả của nhiều lĩnh vực liên quan của con người với xã hội: chúng thường gây ra những mong đợi khác nhau ở ứng xử của người tiếp nhận và sẵn sàng bao dung hoặc ý muốn trừng phạt được biểu hiện mạnh mẽ khác nhau. Durkheim chỉ ra chức năng sát nhập của tội phạm mà hình phạt cho nó góp vào việc củng cố ý thức tập thể và nhận biết các tiêu chuẩn và giá trị của xã hội.
Ông nhấn mạnh rằng tội phạm là bình thường cho một xã hội, bất thường chỉ là sự gia tăng hay gia giảm quá lớn đối với tỉ lệ trung bình. Điều đó cũng có thể khẳng định cho phần lớn các hình thức của hành vi lệch chuẩn, bởi vì mỗi xã hội phải thực hiện một kích cỡ sai lệch chuẩn nhất định, điều đó tạo ra khoảng cách cho ứng xử mới, sáng tạo và sự thích ứng liên tục với một môi trường luôn thay đổi. Ở đề tài này, ta muốn xem xét sự khác biệt về hành vi sai lệch của sinh viên có bị ảnh hưởng từ những người khác trong gia đình, nhóm bạn chơi, bản thân… đã tác động đến nhận thức của sinh viên về vấn đề chấp hành luật giao thông như thế nào và ngoài ra nó có bị tác động bởi sinh lý, giới tính hay một số vấn đề khác. Xã hội hoá Xã hội hoá là quá trình thích ứng cọ xát với các giá trị, chuẩn mực và hình mẫu hành vi xã hội mà trong quá trình đó có một thành viên xã hội tiếp nhận, và duy trì khả năng hoạt động của xã hội.
Xã hội hóa nghiên cứu xem với tư cách là điều kiện và các yếu tố cấu thành, cơ cấu và quá trình xã hội, văn hóa, kinh tế có tác dụng bằng cách nào và ở mức độ nào đến sự phát triển nhân cách con người? Xã hội hoá cá nhân là những phương cách mà cá nhân học hỏi tuân theo các chuẩn mực, các giá trị, các vai trò mà xã hội đề ra. Nói cách khác xã hội hoá cá nhân là một quá trình xã hội, bao gồm sự tương tác giữa các cá nhân và xã hội qua Trang 14 đó mà cá nhân học hỏi và thực hành tri thức, những kỹ năng và những phương thức cần thiết để hội nhập với xã hội. Xã hội hóa còn là quá trình mà trong đó các cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình để phục vụ tốt cho việc thực hiện các mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình (Neil Smelser). Cá nhân trong xã hội hóa không chỉ là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội mà còn chuyển hóa nó thành những giá trị, xu hướng của cá nhân để tham gia tái tạo “sản xuất” chúng trong xã hội.
Xã hội hóa là một quá trình, nó có bắt đầu, có diễn biến và có kết thúc. Môi trường xã hội hóa là nơi mà cá nhân có thể thực hiện thuận lợi các tương tác của mình, nhằm mục đích thu nhận và tái tạo xã hội. Dù có bản chất xã hội và tiền đề tự nhiên phù hợp, con người có thể không trở thành một nhân cách hoàn thiện nếu không được đặt trong một môi trường thích hợp.