CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Mục đích của chương này là chúng tôi tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến luận văn, đồng thời cũng định vị được đình, miếu người Hoa trên phương diện không gian, thời gian, cũng như quá trình hình thành và phát triển tộc người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh. Để làm được điều này, chúng tôi sẽ đề cập đến những khái niệm như di tích, tín ngưỡng, một số các khái niệm trong quần thể di tích đó như chùa, miếu, hội quán, cùng các khái niệm về hoành phi, liễn đối. Trong số các khái niệm đó chúng tôi đã tổng hợp từ nhiều tài liệu của những người đi trước cùng một số khái niệm mà chúng tôi đưa ra quan điểm của mình dựa trên cơ sở các khái niệm đã có, cùng với việc giới thiệu khái quát về người Hoa về các hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục, cùng các miếu Hoa được khảo sát. Tất cả những điều trên đã tạo tiền đề cho khung lý thuyết để giải quyết chương hai và ba của luận văn.1 Khái niệm di tích, tín ngưỡng và di tích tín ngưỡng Di tích Liên quan đến vấn đề di tích, có một số khái niệm được đưa ra như sau: Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, xuất bản năm 2006, di tích được định nghĩa: “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử”.
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003) lại định nghĩa: “Di tích là dấu vết của người hoặc sự việc thời xưa hoặc thời trước đây còn để lại”. Trong số các khái niệm về di tích được nêu trên, chúng tôi đồng tình với khái niệm mà Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam đưa ra, vì nội hàm của khái niệm tương đối đầy đủ, không dài cũng không ngắn, đủ để nhận diện khái niệm về một di tích. Tín ngưỡng Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003) khái niệm tín ngưỡng được định nghĩa: “Tín ngưỡng là lòng tin theo một tôn giáo nào đó”. 15 Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân: Tổ chức đời sống cá nhân là một bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng.
Đời sống cá nhân trong mỗi cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục). Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào vì tin tưởng vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng). Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý. Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó.
Mới có những mầm mống tôn giáo như thế. Đó là ông bà, đạo mẫu, phải đợi đến khi các tôn giáo thế giới như Phật, Đạo, Kitô giáo đã được du nhập vào và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như Cao Đài, Hòa Hảo mới xuất hiện [Trần Ngọc Thêm 2006: 233]. Dựa trên các khái niệm về tín ngưỡng của các tác giả đi trước, chúng tôi tạm đưa ra khái niệm về tín ngưỡng như sau: “Nói đến Tín ngưỡng là nói đến quá trình thuần hóa một nhân vật, hiện tượng được con người gửi gắm niềm tin, quá trình ấy có thể đi kèm theo là huyền thoại hóa, cuộc sống hóa nhân vật thờ phụng”. Di tích tín ngưỡng Dựa trên cơ sở các định nghĩa về di tích và các định nghĩa về tín ngưỡng đã trình bày ở trên, chúng tôi đưa ra một khái niệm chung về di tích tín ngưỡng như sau: “Di tích tín ngưỡng là cơ sở thờ phụng có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử, ở đó con người gửi gắm niềm tin vào nhân vật, huyền thoại được thờ phụng”.
Theo như khái niệm về di tích tín ngưỡng thì những tên gọi như đình, chùa, miếu, được xem là cơ sở thờ phụng của các di tích tín ngưỡng, là nơi để người ta đến thực hành các nghi lễ cúng bái, ngưỡng vọng thần linh. Chúng ta có thể hiểu một cách tổng thể về đình, chùa, miếu, hội quán qua một số khái niệm sau. Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003), khái niệm đình được định nghĩa: “Đình là nhà công cộng của làng thời trước, được xây dựng để làm nơi thờ thành hoàng và họp việc làng”. 16 Trong tác phẩm Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh, các tác giả Li Tana và Nguyễn Cẩm Thúy (1999), đưa ra khái niệm về đình như sau: “Đình là nơi sinh hoạt cộng đồng của làng xã Việt Nam thời xưa, đồng thời là nơi thờ thành hoàng, ghi công trạng của những người có công đức với làng xã, niêm yết các giao kèo, khoán ước của làng”.
Theo Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, khái niệm đình được định nghĩa: “Đây là nơi sinh hoạt công cộng của làng xã nước ta thời xa xưa, là nơi làm việc của chức dịch địa phương và cũng là nơi thờ thành hoàng của mỗi làng” [theo Li Tana và Nguyễn Cẩm Thúy 1999: 53]. Dựa vào một số khái niệm nêu trên, chúng tôi đồng tình với khái niệm mà Từ điển tiếng Việt đưa ra vì khái niệm nêu ra tương đối đầy đủ thông tin để nhận diện ngôi đình. Theo như cách hiểu truyền thống thì Chùa chủ yếu là nơi thờ Phật, nơi định vị của các tăng đồ Phật giáo – tôn giáo tiêu biểu, phổ biến nhất ở các vùng nông thôn và đô thị Việt Nam, nghĩa là nơi thuần tuý có tính chất tôn giáo. Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003) cho rằng: “Chùa là công trình kiến trúc làm nơi thờ Phật, thường có nhà sư ở”.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Chùa là một công trình kiến trúc phục vụ mục đích tín ngưỡng. Chùa được xây dựng chủ yếu ở các nước Đông Á vá Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và thường là nơi thờ Phật. Tại nhiều nơi, chùa có nhiều điểm giống với chùa tháp Ấn Độ, vốn là nơi cất giữ Xá-lị và chôn cất các vị đại sư, thường có nhiều tháp bao quanh. Chùa là nơi tiêu biểu cho Chân như, được nhân cách hóa bằng hình tượng một đức Phật được thờ ngay giữa chùa.
Nhiều chùa được thiết kế như một Man-đa-la, gồm một trục ở giữa với các vị Phật bốn phương. Cũng có nhiều chùa có nhiều tầng, đại diện cho ba thế giới (tam giới), các cấp bậc tiêu biểu cho thập địa của Bồ Tát. Có nhiều chùa được xây tám mặt đại diện cho Pháp luân hoặc Bát chánh đạo. Chùa còn là nơi tập trung các sư tăng (hay ni nếu là chùa nữ) sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật.
Tại nơi này, mọi người 17 kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hoặc thực hành các nghi lễ tôn giáo. Theo như các định nghĩa trên thì chúng tôi có thể tạm đưa ra khái niệm về chùa như sau: “Chùa là công trình kiến trúc được xây dựng lên để thờ Phật, nhằm phục vụ cho các mục đích và niềm tin tôn giáo (Phật giáo)”. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm về miếu. Toan Ánh trong Tín ngưỡng Việt Nam quyển thượng cho rằng: “Miếu cũng như đền là nơi quỷ thần an ngự.
Miếu nhỏ hơn đền (đền nhỏ hơn đình), thường xây theo kiểu hình chữ nhật với hai phần cách nhau bởi một bức rèm, nội điện bên trong và nhà tiền tế bên ngoài, miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân chúng làm nhộn. Trong miếu cũng có tượng thần hoặc bài vị thần linh, đặt trên ngai, ngai đặt trên bệ với thần sắc hoặc bản sao”. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, có quy mô nhỏ hơn đền. Miếu thường tọa lạc ở nơi xa làng, yên tĩnh, thiêng liêng và chỉ là nơi yên nghỉ của các vị thánh thần.
Khi miếu phối thờ Phật thì được gọi là am, ở Nam Bộ miếu còn được gọi là miễu. Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003): “Miếu là đền thờ nhỏ, làm nơi thờ những nhân vật đã được phong thần, hoặc những nhân vật đã được thần thánh hóa”. Dựa theo các khái niệm về miếu đã trình bày ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về miếu như sau: “Miếu là cơ sở thờ tự được dựng lên thờ các vị thần linh hay những nhân vật đã được thần thánh hóa”. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (2006), hội quán được hiểu như sau: “Hội quán là trụ sở của một hội”.
Các tác giả Li Tana và Nguyễn Cẩm Thúy trong tác phẩm Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh (1999) viết: “Ở Việt Nam hội quán là tổ chức có thực lực kinh tế mạnh nhất trong bang nên dần dần trở thành đại diện của bang và trụ sở của nó cũng đồng thời trở thành trụ sở chung của bang”. 18 Công trình Miếu Thiên Hậu – Tuệ Thành hội quán, Lê Văn Cảnh chủ biên năm 2000, đã đưa ra khái niệm hội quán như sau: “Hội quán là tên gọi xa xưa về trụ sở làm việc của một tổ chức quần chúng đồng hương hay đồng nghiệp”. Qua các khái niệm về hội quán nêu trên, chúng tôi đồng tình với khái niệm về hội quán của các tác giả Li Tana và Nguyễn Cẩm Thúy, khái niệm đưa ra về cơ bản mang đầy đủ đặc điểm và tính chất của một hội quán. Như vậy, thông qua một số khái niệm đình, chùa, miếu, hội quán được hiểu là tên gọi của các cơ sở di tích tín ngưỡng nói trên, chúng ta đã có những cơ sở lý luận để nắm bắt khi tìm hiểu về các cơ sở di tích tín ngưỡng của người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh.2 Khái niệm hoành phi, liễn đối và phân biệt với các thể loại khác Hoành phi Căn cứ theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003), hoành phi được định nghĩa: “Hoành phi là biển gỗ lớn có khắc chữ Hán, thường treo ngang giữa gian nhà để thờ hoặc trang trí.