CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 một số khái niệm 1. Phát triển Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Theo Ngân hàng thế giới (WB): phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con người. Theo MalcomGills - Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Mỹ: phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hoá, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên.
Theo tác giả Raaman Weitz: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”. Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Tóm lại, phát triển kinh tế là sự phát triển trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về qui mô số lượng cũng như sự thay đổi cấu trúc theo chiều hướng tiến bộ của nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng của sản phẩm để đạt đến đích cuối cùng đó là tăng hiệu quả kinh tế.
Trong quá trình phát triển kinh tế, khái niệm phát triển bền vững được hình thành và ngày càng được hoàn thiện. Năm 1987, theo Ngân hàng thế giới (WB): phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm thương tổn đến hoạt động kinh tế, hoạt động xã hội nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng đến nhu cầu của tương lai. Các thế hệ hiện tại khi sử dụng các nguồn tự 4 nhiên cho sản xuất và của cải vật chất không thể để cho thế hệ mai sau phải gánh chịu tình Luan van 5 trạng ô nhiễm cạn kiệt tự nhiên và nghèo đói. Cần phải để cho thế hệ tương lai được thừa hưởng các thành quả lao động của thế hệ hiện tại dưới dạng giáo dục kỹ thuật, kiến thức và các nguồn lực khác ngày càng được tăng cường.
Như vậy, phát triển bên cạnh tăng thu nhập bình quân đầu người, còn bao gồm cả các khía cạnh như nâng cao phúc lợi nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, cải thiện sức khoẻ và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân. Phát triển còn là sự tăng bền vững về các tiêu chuẩn sống, bảo gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục, sức khoẻ và bảo vệ môi trường. Phát triển là những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và quyền tự do công dân của con người. Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế vốn có trong mọi hình thái kinh tế xã hội.
Nó bắt nguồn từ mục đích thoả mãn các nhu cầu cũng như khả năng khách quan của sự lựa chọn trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Mặc dù có sự thống nhất trong quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh tế phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế nhưng lại có rất nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Có quan điểm cho rằng: hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác. Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bố có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội.
Một số ý kiến khác lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỉ lệ giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí. Thực chất quan điểm này chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải hiệu quả của toàn bộ phần tham gia vào quá trình kinh tế. Nhiều tác giả khác lại đề cập đến hiệu quả kinh tế ở dạng khái quát như hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỉ số đạt được và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó. có hai khái niệm hiệu quả khác nhau là hiệu quả tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả tính bằng đơn vị giá trị.
“Mối quan hệ tỉ lệ giữa sản lượng tính bằng đơn vị hiện vật (chiếc, kg,.) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu.) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kĩ thuật hay hiên vật hoặc được 5 gọi là năng suất”. Và “Mối quan hệ tỉ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh Luan van 6 doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về giá trị nếu một sản lượng nhất định có thể đạt được bằng nhiều sự kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau” và “để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỉ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền”. Hoặc phát biểu khái quát hơn “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, tiền vốn, vật lực.) để đạt được mục tiêu xác định”.Từ khái niệm khái quát này có thể hình thành công thức biểu diễn phạm trù hiệu quả kinh tế như sau: H = K/C Trong đó: H: Là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình) kinh tế nào đó K: Là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó C: Là chi phí để đạt được kết quả đó Như vậy có thể hiểu hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh.3 Du lịch Du lịch là việc đi lại nhằm mục đích niềm vui hoặc kinh doanh; cũng là lý thuyết và thực hành về tổ chức các chương trình đi du lịch, ngành kinh doanh nhằm thu hút, cung cấp và giải trí cho khách du lịch, và việc kinh doanh của các tổ chức điều hành các tour du lịch. Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa du lịch nói chung, theo nghĩa "vượt ra ngoài nhận thức chung về du lịch là chỉ giới hạn trong hoạt động nghỉ lễ", vì mọi người "đi du lịch và ở trong những nơi ngoài môi trường thông thường của họ không quá một năm liên tiếp để giải trí và không ít hơn 24 giờ, với mục đích kinh doanh và các mục đích khác " 1.4 Du lịch nông nghiệp Du lịch nông nghiệp (tiếng Anh: Agritourism) là một loại hình du lịch tạo ra sản phẩm du lịch phục vụ du khách chủ yếu dựa vào nền tảng của hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Luan van 7 Cơ sở tài nguyên cho du lịch nông nghiệp Do vậy tài nguyên của loại hình du lịch này là tất cả những gì phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Từ tư liệu sản xuất, đất đai, con người, qui trình sản xuất, phương thức tập quán, kĩ thuật canh tác và sản phẩm làm ra… đến những yếu tố tự nhiên có liên quan đến sản xuất nông nghiệp như thời tiết, khí hậu, canh tác… đều là cơ sở tài nguyên cho du lịch nông nghiệp. Không gian tổ chức Không gian tổ chức các hoạt động du lịch nông nghiệp cho du khách là trang trại, đồng ruộng, vườn cây, rừng trồng đến cả những ao nuôi, cơ sở thuần dưỡng động, thực vật hoang dã… Chúng là những đơn vị không gian cụ thể thuộc về các tổ chức lãnh thổ nông nghiệp cụ thể như một hộ gia đình, một trang trại, một hợp tác xã hay là một doanh nghiệp nông nghiệp… Chủ thể tham gia tổ chức Các chủ thể tham gia tổ chức du lịch nông nghiệp có thể là chủ hộ, nhà vườn, chủ rừng, chủ trang trại, chủ cơ sở, hợp tác xã nông nghiệp, tổ hợp tác, chủ doanh nghiệp nông nghiệp. Tất cả họ đều có điểm chung là có nguồn thu chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp nên có thể gọi chung là nông dân.
Ý nghĩa của phát triển du lịch nông nghiệp và phát triển cam 1.1 Ý nghĩa của phát triển du lịch nông nghiệp Khai thác lợi thế thế về điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch nông nghiệp theo hướng phát triển tối đa ,quảng bá sản phẩm đến thị trường hiện có, tập chung đầu tư mô hình nông nghiệp theo hướng du lịch , nâng cao năng suất chất lượng, giá trị sản phẩm. Hình thành vùng du lịch nông nghiệp sản xuất các sản phẩm , tập trung có quy mô lớn, năng suất cao và chất lượng tốt, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, thu hút được nhiều lao động. Ngoài mục đích tiếp cận và phát triển du lịch nông nghiệp từ đó ta có thể đa dạng hóa sản phẩm của mô hình. Đây là loại mô hình nông nghiệp đang được sự tập trung về đầu tư và thực hiên, giá trị kinh tế đem lại khá là cao.
Ý nghĩa của việc phát triển cây cam * Ý nghĩa của phát triển sản xuất cam đối với sử dụng các nguồn lực Sử dụng nguồn lực đất đai: đối với cây ăn quả có múi, yêu cầu về đất trồng là đất có cấu tượng tốt, nhiều mùn, thoáng khí, thoát nước tốt, tầng đất dày, mực nước ngầm thấp. Cụ thể, để cây có múi sinh trưởng phát triển tốt thì điều kiện yêu cầu là tầng đất canh tác dày trên 70 cm, hàm lượng mùn từ 2-3%, pH thích hợp từ 6-6,5. đất Cao Phong chủ yếu là địa hình đồi bát úp, có nhiều loại đất khác nhau. Vùng đồi núi có các loại đất nâu vàng, đất đỏ vàng, đất nâu đỏ và mùn đỏ vàng.
Vùng đất thấp có các loại đất phù sa và đất dốc tụ. Qua kết quả các nghiên cứu phân tích lý hoá đất cho thấy: đất Cao Phong được chia làm 2 vùng: vùng đồi cao và vùng đồi thấp. Vùng đồi cao có tầng canh tác từ 0-75 cm, có hàm lượng mùn từ 0,93- 1,6%, pH từ 5,0-5,3. Với vùng đồi thấp có hàm lượng mùn từ 1,3-2,15%, độ pH từ 5,2-5,5.