Tổng quan nghiên cứu

Khu vực ven biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sở hữu vị trí địa chiến lược quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với diện tích tự nhiên 2.006,70 km2 và bờ biển dài giàu tiềm năng. Trải qua các cuộc điều tra thực địa từ năm 1998 đến năm 2004, các nhà khảo cổ học đã tiến hành khảo sát 16 địa điểm và xác lập 11 di tích tiêu biểu phân bố trên hệ thống gò đất thuộc vùng sinh thái ngập mặn ven sông Thị Vải, huyện Tân Thành. Tổng diện tích khai quật và thám sát đạt 474 m2, trong đó di chỉ Gò Cá Sỏi chiếm 164 m2 và di chỉ Gò Cây Me chiếm 300 m2. Kết quả đã thu thập khối lượng tư liệu khổng lồ gồm 322 công cụ đá, 27 hiện vật xương, 26 đồ gốm nguyên hoặc phục nguyên và 143.253 mảnh gốm các loại.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của đề tài tập trung vào việc giải mã khoảng trống lịch sử về diện mạo cư trú, phương thức sinh kế và trình độ kỹ nghệ của lớp cư dân cổ đầu tiên khai phá vùng đất sình lầy ngập mặn Đông Nam Bộ sau đợt biển thoái Holocene trung cách đây khoảng 3.000 đến 4.000 năm. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm hệ thống hóa toàn bộ nguồn tư liệu hiện vật, phân tích cấu tạo địa tầng, xác định loại hình học di tích và xác lập niên đại của nhóm di tích thuộc giai đoạn sơ kỳ thời đại đồng thau khoảng 3.000 năm cách ngày nay.

Về mặt học thuật và thực tiễn, công trình đóng góp nguồn cứ liệu vật chất chuẩn xác chứng minh bề dày lịch sử - văn hóa bản địa của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy hỗ trợ 100% công tác lập hồ sơ bảo tồn di tích khảo cổ học, đồng thời bổ sung hiện vật phục vụ công tác trưng bày bảo tàng và biên soạn địa chí địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết khảo cổ học sinh thái kết hợp với lý thuyết loại hình học khảo cổ. Lý thuyết khảo cổ học sinh thái được vận dụng để phân tích mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa con người thời tiền sử và môi trường rừng ngập mặn ven biển. Môi trường sinh thái cửa sông Thị Vải với thảm thực vật đặc trưng như đước, mắm, bần cùng chế độ nhật triều hai lần mỗi ngày là nhân tố quyết định việc lựa chọn vị trí cư trú trên các gò đất cao hơn mực nước triều khoảng 1 mét.

Bên cạnh đó, mô hình phân tích loại hình học công cụ giúp truy nguyên kỹ thuật chế tác, chức năng sử dụng và mức độ tiến hóa của các tổ hợp hiện vật đá, xương và gốm. Các khái niệm chuyên ngành then chốt được định nghĩa và vận dụng xuyên suốt bao gồm: tầng văn hóa (lớp đất trầm tích hình thành do hoạt động sinh sống của con người), sinh thổ (lớp sét biển màu trắng xanh nguyên sinh nằm dưới đáy tầng văn hóa), thời đại kim khí (giai đoạn chuyển giao kỹ nghệ từ đá sang kim loại mà ở đây là sơ kỳ đồng thau) và di chỉ gò (dạng phế tích cư trú kết hợp chế tác trên địa hình cồn đất nổi giữa vùng sình lầy).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình được xử lý từ cỡ mẫu gồm 474 m2 hố khai quật và thám sát cùng toàn bộ 143.602 tiêu bản hiện vật thu thập tại 11 di tích thuộc huyện Tân Thành. Phương pháp chọn mẫu được tiến hành có chủ đích và mang tính đại diện cao, tập trung bóc tách toàn diện 2 di chỉ tiêu biểu là Gò Cá Sỏi (khai quật năm 1998) và Gò Cây Me (khai quật năm 2004) nhằm đối sánh với 9 điểm di tích vệ tinh lân cận.

Quy trình nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp khảo cổ học truyền thống và khoa học tự nhiên:

  • Phương pháp khảo cổ học thực địa: Thực hiện bóc tách địa tầng theo từng lớp đất tự nhiên với độ sâu trung bình từ 1,1m đến 1,8m, lập 50 bản vẽ mặt cắt địa tầng và hiện vật, thực hiện 14 bản dập hoa văn gốm cùng 30 bức ảnh tư liệu khoa học.
  • Phương pháp giám định cổ sinh học: 100% mẫu xương răng động vật thu được tại di chỉ Gò Cây Me được phân loại và giám định hình thái học bởi các chuyên gia cổ nhân học và cổ sinh vật học.
  • Phương pháp so sánh lịch sử và phân tích không gian: Đối sánh loại hình học giữa nhóm di tích ven biển Tân Thành với các di chỉ khảo cổ học tiêu biểu trong khu vực như Bình Đa, Cái Vạn (Đồng Nai), Bến Đò (Thành phố Hồ Chí Minh), Rạch Núi và An Sơn (Long An). Tiến độ nghiên cứu được triển khai liên tục và hệ thống từ đợt phát hiện đầu tiên năm 1998 đến khi hoàn thiện tổng hợp năm 2006.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình chỉnh lý và phân tích số liệu khảo cổ đã làm sáng tỏ 4 nhóm phát hiện then chốt về đời sống cư dân cổ ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu:

Thứ nhất, bộ sưu tập công cụ đá gồm 322 tiêu bản thể hiện tính chuyên môn hóa cao trong lao động sản xuất. Nhóm công cụ chặt và đẽo gồm rìu và bôn chiếm 45,34% (146 tiêu bản), trong đó rìu có vai chiếm 14,29% (46 tiêu bản), rìu tứ giác chiếm 10,87% (35 tiêu bản), bôn tứ giác chiếm 2,17% (7 tiêu bản) và bôn có vai chiếm 1,86% (6 tiêu bản). Tỷ lệ rìu chiếm ưu thế áp đảo so với bôn cho thấy hoạt động chặt cây khai phá rừng chiếm vị trí hàng đầu. Đáng chú ý, nhóm công cụ chế tác và tu sửa gồm hòn ghè, hòn kê chiếm tỷ lệ cao nhất với 25,47% (82 tiêu bản) và bàn mài chiếm 17,39% (56 tiêu bản). Phát hiện đặc biệt nhất là 01 con dao đá dài 20cm có mặt cắt hình tam giác sắc bén, một loại hình hiện vật độc bản cực kỳ hiếm gặp trong khảo cổ học Đông Nam Bộ.

Thứ hai, nhóm hiện vật xương với 27 tiêu bản minh chứng cho kỹ thuật gia công xương tinh xảo hiếm thấy trong giai đoạn sơ kỳ kim khí. Bộ công cụ mũi nhọn chiếm 37% tổng số đồ xương (10 tiêu bản), bao gồm 7 mũi nhọn hai đầu (26%) và 3 mũi nhọn một đầu (11%). Khảo sát còn ghi nhận 01 mũi lao có ngạnh dài 6,6cm (3,7%), 01 phác vật rìu bằng xương dài 14,2cm (3,7%) và 13 mảnh xương mang dấu vết cưa, cắt, mài (48,2%). Đây là bằng chứng rõ ràng khẳng định cư dân đã thuần thục kỹ thuật cưa cắt xương động vật để làm vũ khí săn bắt thủy sản.

Thứ ba, đồ gốm thể hiện quy mô sản xuất tại chỗ với 143.253 mảnh gốm và 26 đồ gốm nguyên hoặc phục nguyên. Gốm thô chiếm ưu thế tuyệt đối với 97% tổng số lượng, được tạo hình bằng tay, xương gốm màu đen pha nhiều bã thực vật và vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ. Ngược lại, gốm mịn chỉ chiếm khoảng 3%, xương nâu cứng chắc pha cát mịn, là sản phẩm trao đổi liên vùng. Các loại hình độc đáo gồm có 11 bi gốm (42,30%), 4 nồi minh khí (15,40%), 2 bát đáy lồi (7,70%), 2 bát chân cao (7,70%) và 01 mô hình cà ràng ba chân (3,84%).

Thứ tư, nguồn thức ăn và phương thức sinh kế phản ánh qua di tích cổ sinh vật học gồm 75 càng cua bể, 7 răng xương lợn, 6 răng xương khỉ, 5 mảnh mai rùa cùng xương cá sấu và hàng vạn vỏ nhuyễn thể. Số liệu này chứng minh cư dân đã kết hợp hoàn hảo giữa kinh tế khai thác thủy hải sản nước lợ, săn bắt thú rừng và chăn nuôi gia súc (lợn).

Thảo luận kết quả

Cơ cấu hiện vật đồ đá và đồ gốm có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cột phân bố chức năng công cụ và biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ chất liệu gốm. Biểu đồ tỷ lệ gốm tại di chỉ Gò Cây Me thể hiện rõ sự phân hóa với 97% gốm thô bản địa và 3% gốm mịn giao lưu, trong khi đồ đá thể hiện tỷ lệ vượt trội của bộ công cụ chế tác đá (bàn mài, hòn ghè chiếm tổng cộng 42,86%). Bảng tổng hợp địa tầng 5 lớp cho thấy quá trình bồi tụ diễn ra liên tục từ tầng sinh thổ sét biển màu trắng xanh ở độ sâu -1,8m lên đến lớp đất xáo trộn trên mặt.

Sự hiện diện của các vỉa đất phèn kết cứng chứa nhiều vỏ sò ốc và than tro dày từ 0,1m đến 0,4m khẳng định tính chất cư trú lâu dài của một cộng đồng dân cư ổn định. Mặc dù địa tầng dày tới 1,8m, các tổ hợp gốm không có sự biến đổi đột ngột về kiểu dáng, chứng minh sự phát triển văn hóa diễn ra liên tục, nhất quán.

Khi so sánh với các di chỉ lân cận, nhóm di tích ven biển Tân Thành có nhiều nét tương đồng với di chỉ Rạch Núi (Long An) về loại hình gốm miệng khum văn thừng, nồi minh khí và mũi nhọn xương hai đầu. Đồng thời, kỹ thuật ghè mài công cụ đá mang phong cách tương đồng với các di tích lưu vực sông Đồng Nai như Bình Đa, Cái Vạn và Bến Đò. Ngoài ra, việc phát hiện các mảnh gạch vỡ kiểu Giồng Am (thế kỷ V - VI) nằm phủ trên bề mặt các gò như Gò Bảy Mộ, Gò Phước Lộc I cho thấy vào giai đoạn văn hóa Óc Eo sau đó khoảng hơn 1.000 năm, các cư dân cổ tiếp tục tận dụng chính các gò đất cao này để định cư.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của nhóm di tích khảo cổ học thời đại kim khí ven biển, bốn giải pháp trọng tâm cần được thực hiện:

Thứ nhất, thiết lập hành lang bảo vệ di tích khẩn cấp. Ủy ban nhân dân thị xã Phú Mỹ (huyện Tân Thành trước đây) phối hợp cùng Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiến hành cắm mốc ranh giới bảo vệ cho 11 điểm di tích gò đất ven sông Thị Vải. Mục tiêu ngăn chặn 100% các hoạt động đào ao nuôi tôm tự phát và san lấp mặt bằng xây dựng công nghiệp làm phá hủy địa tầng di tích trong lộ trình giai đoạn 2026 - 2027.

Thứ hai, triển khai kế hoạch khai quật khảo cổ học mở rộng. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia phối hợp với các cơ quan chuyên môn mở rộng diện tích khai quật từ 500 m2 đến 800 m2 tại các địa điểm tiềm năng cao như Gò Tranh và Gò Bảy Mộ trong vòng 2 năm tới. Hoạt động này nhằm thu thập thêm mẫu than tro phục vụ phân tích đồng vị phóng xạ Carbon-14 (C14) để xác lập khung niên đại tuyệt đối chuẩn xác cho toàn bộ nhóm di chỉ.

Thứ ba, ứng dụng phương pháp phân tích thành phần hóa lý hiện đại. Viện Khảo cổ học chủ trì thực hiện phân tích huỳnh quang tia X (XRF) và thạch học trên 100% mẫu gốm mịn (chiếm 3% tổng số gốm) và đá nguyên liệu nhằm xác định chính xác nguồn gốc địa chất của khoáng vật, từ đó tái hiện mạng lưới giao thương hàng hải sơ kỳ kim khí trước năm 2028.

Thứ tư, đổi mới công tác trưng bày và giáo dục di sản. Bảo tàng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cần xây dựng không gian trưng bày chuyên đề "Văn hóa sơ kỳ kim khí vùng ngập mặn ven biển", tích hợp công nghệ số hóa 3D cho 322 hiện vật đá và 27 hiện vật xương tiêu biểu, phục vụ khoảng 50.000 lượt khách tham quan và học sinh sinh viên mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Các nhà nghiên cứu khảo cổ học và nhân học tiền sử: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng chuẩn xác gồm 322 công cụ đá, 27 hiện vật xương và hơn 143.000 mảnh gốm để phục vụ công tác đối sánh hình thái học với các nền văn hóa khảo cổ đương đại như văn hóa Đồng Nai, văn hóa Rạch Núi và tiền Óc Eo.
  • Giảng viên và học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử, Khảo cổ học và Văn hóa học: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điền dã khảo cổ học vùng đất ngập mặn, kỹ thuật bóc tách địa tầng phức tạp và quy trình phân loại thống kê hiện vật gốm quy mô lớn.
  • Cán bộ quản lý di sản văn hóa và chuyên viên bảo tàng: Khai thác bản đồ tọa độ 11 di tích và danh mục hiện vật chi tiết để xây dựng hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh và quốc gia, đồng thời thiết kế kịch bản trưng bày bảo tàng địa phương.
  • Các nhà quy hoạch đô thị và nghiên cứu môi trường sinh thái: Nắm bắt bức tranh tiến hóa địa mạo vùng cửa sông ven biển Đông Nam Bộ trong 4.000 năm qua để tích hợp dữ liệu lịch sử tự nhiên vào các đề án quy hoạch phát triển bền vững ven sông Thị Vải.

Câu hỏi thường gặp

Nhóm di tích thời đại kim khí ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu có niên đại chính xác là bao nhiêu năm? Dựa trên phương pháp so sánh loại hình học di vật và đối sánh địa tầng với các di chỉ Bình Đa và Rạch Núi, nhóm di tích này được xác định có niên đại khoảng 3.000 năm cách ngày nay, tương đương giai đoạn sơ kỳ thời đại đồng thau ở miền Đông Nam Bộ.

Đặc trưng nổi bật nhất của bộ sưu tập 322 công cụ đá tại nhóm di tích này là gì? Đặc trưng lớn nhất là sự vượt trội của bộ công cụ sản xuất và chế tác tại chỗ với 82 hòn ghè hòn kê (chiếm 25,47%) và 56 bàn mài (chiếm 17,39%). Rìu có vai chiếm ưu thế với 46 tiêu bản (56,79% tổng số rìu), cùng sự xuất hiện của 01 con dao đá độc bản dài 20cm.

Vì sao phát hiện 27 tiêu bản đồ xương tại di chỉ Gò Cây Me lại có ý nghĩa khoa học quan trọng? Trong các di tích sơ kỳ kim khí miền Nam, đồ xương cực kỳ hiếm gặp do điều kiện bảo tồn khắc nghiệt. Sự hiện diện của mũi lao có ngạnh, 7 mũi nhọn hai đầu và dấu vết cưa cắt cơ học chứng minh kỹ nghệ chế tác xương động vật đã đạt đến trình độ rất điêu luyện.

Tỷ lệ 97% gốm thô và 3% gốm mịn phản ánh điều gì về đời sống kinh tế của cư dân cổ? Tỷ lệ 97% gốm thô pha vỏ nhuyễn thể và bã thực vật chứng minh cư dân đã tự sản xuất đồ gốm phục vụ sinh hoạt ngay tại các gò đất ven sông. Trong khi đó, 3% gốm mịn màu nâu đỏ pha cát là minh chứng cho mối quan hệ trao đổi, buôn bán hàng hóa với các cộng đồng cư dân vùng cao lân cận.

Dấu tích khảo cổ nào chứng minh sự kế thừa không gian cư trú giữa cư dân kim khí và văn hóa Óc Eo? Khảo sát địa tầng tại các địa điểm như Gò Bảy Mộ và Gò Phước Lộc I đã phát hiện các mảnh gạch ngói thuộc văn hóa Óc Eo (thế kỷ V - VI) nằm phủ trực tiếp lên tầng văn hóa chứa gốm thô sơ kỳ kim khí (khoảng 1.000 năm trước Công nguyên), chứng minh tính kế thừa địa bàn cư trú lâu dài.

Kết luận

  • Nhóm di tích ven biển huyện Tân Thành gồm 11 điểm phân bố trên các gò đất ngập mặn là phát hiện khảo cổ học mang tính đột phá về giai đoạn sơ kỳ đồng thau tại Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Tổng diện tích khai quật 474 m2 tại Gò Cá Sỏi và Gò Cây Me đã thu thập hơn 143.600 hiện vật, xác lập một tổ hợp văn hóa đồng nhất có niên đại khoảng 3.000 năm trước.
  • Cư dân cổ đã thích ứng xuất sắc với hệ sinh thái rừng sác ngập mặn thông qua nền kinh tế đa thành phần: khai thác hải sản, săn bắt thú rừng, chăn nuôi lợn và sản xuất gốm thô tại chỗ.
  • Kỹ nghệ chế tác đá và xương đạt trình độ tinh xảo với các loại hình tiêu biểu như rìu có vai, dao đá tam giác, mũi nhọn hai đầu và mũi lao có ngạnh.
  • Tư liệu khẳng định mối liên hệ văn hóa chặt chẽ giữa vùng ven biển Thị Vải với các trung tâm khảo cổ học lớn thời tiền - sơ sử tại Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh và Long An.

Công trình là đóng góp học thuật nền tảng, hoàn thiện bức tranh thời tiền - sơ sử miền Đông Nam Bộ. Để tiếp tục phát huy giá trị di sản, các cơ quan nghiên cứu và quản lý văn hóa cần sớm triển khai lộ trình khai quật mở rộng, phân tích niên đại tuyệt đối C14 và bảo vệ nghiêm ngặt hệ thống di tích trước áp lực công nghiệp hóa. Quý bạn đọc, học viên và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp nguồn dữ liệu phong phú này để phục vụ các công trình nghiên cứu chuyên sâu về khảo cổ học tiền sử Việt Nam.