chương 1 Như vậy, qua những đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở huyện Tiên Yên nói chung và huyện Đầm Hà nói riêng chúng ta có thể thấy những điều kiện rất thuận lợi cho sự cư trú của các cư dân cổ, đặc biệt là ảnh hưởng đến phương thức kinh tế khai thác ven biển trong đời sống vật chất của cư dân cổ Hòn Ngò và Núi Hứa. Những nghiên cứu khảo sát và khai quật đã cho thấy một phần nào về bức tranh cổ về cộng đồng cư dân cổ nơi đây. Sử dụng các loại công cụ đá khác nhau để khai thác nguồn lợi từ thiên nhiên, những đặc điểm chính về nhóm di tích này đã chỉ ra cho chúng ta thấy từ xa xưa đã có những cộng đồng cư dân cổ sống trên các đượng, đồi đất khác nhau trong đất liền để từ đó tiến hành các hoạt động khai thác ven biển và giao lưu, trao đổi văn hóa với các cộng đồng dân cư khác. Bên cạnh những kết quả nghiên cứu đã đặt được còn nhiều vấn đề khác xoay quanh nhóm di tích này cần được làm sáng tỏ trên phương diện nghiên cứu kỹ thuật, loại hình học ở công cụ đá, cần thấy được những đặc trưng về kinh tế khai thác biển trong thời đại đá mới vùng duyên hải qua sự phát triển của nhóm di tích này.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: CẤU TẠO ĐỊA TẦNG VÀ ĐẶC TRƯNG DI VẬT 2. Cấu tạo địa tầng Qua kết quả nghiên cứu điều tra, khai quật nhóm di tích này cho thấy: địa tầng của nhóm di tích có đặc điểm tương đồng nhau. Các đặc điểm về hình thái địa hình, địa mạo giống nhau, trong cùng môi trường bãi triều ven biển. Đặc biệt qua kết quả khai quật di tích Hòn Ngò năm 2014 cho thấy địa tầng ở khu vực bãi triều và sườn đồi như sau: 2.
Địa tầng di tích Hòn Ngò Qua khảo sát và kết quả khai quật ở di tích Hòn Ngò năm 2014 cho thấy địa tầng khu vực di tích này như sau: 2. Địa tầng khu vực bãi triều Lớp mặt: là lớp phù sa lắng đọng của biển, được hình thành do hiện tượng thủy triều lên xuống đều đặn, là các lớp cát mỏng, pha lẫn ít sét phù sa màu nâu vàng và nâu xám. Ngay trên bề mặt này xuất lộ nhiều di vật gồm cả đồ đá và đồ gốm. Lớp 1 (từ 0cm đến 10cm): là lớp đất mùn phù sa lắng đọng lại, chủ yếu là thành phần cát và ít bùn sét màu nâu nhạt, có nhiều rễ cây sú, mắm, vẹt ăn sâu xuống.
Các loại hình di vật chủ yếu phát hiện trên bề mặt và trong lớp này. Lớp 2 (từ 10cm đến 30cm): lớp này tính chất và màu sắc đất như lớp mặt, tuy nhiên tỷ lệ đất sét lẫn mùn khá cao nên đất có hiện tượng bùn nhão, màu nâu xám, lẫn nhiều cát mịn nhỏ và mùn cỏ cây lắng đọng lại. Trong lớp này số lượng di vật xuất lộ ít, chủ yếu số di vật còn lại xuất lộ ở độ sâu 10 - 20cm. Từ 30cm đến 80cm: là lớp sét lắng đọng, ít cát hơn, gây nên hiện tượng bùn nhão, có lẫn rễ cây sú, mắm.
Không có di vật và các dấu tích văn hóa. Địa tầng khu vực sườn đồi 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chúng tôi tiến hành mở 2 hố với diện tích 32m2. Hai hố được mở ở độ cao so với bề mặt bãi triều trung bình 4,0 - 5,0m. Do địa hình sườn đồi nên hố khai quật có chiều dốc từ bắc xuống nam, nên độ cao chênh lệch của hố trung bình 0,5 - 1,0m.
Trong hố khai quật không xuất lộ dấu tích của tầng văn hóa và dấu vết cư trú của con người nơi đây, phủ lớp trên cùng là lớp mùn từ cỏ cây và lá rụng xuống, dày khoảng 10cm, tiếp đến vẫn là lớp đất mùn màu nâu nhạt, đất tơi, dày khoảng 10cm. Dưới lớp đất mùn này là nền đất đồi màu vàng nhạt, lẫn hạt laterite nhỏ. Không có dấu vết tầng văn hóa. Địa tầng di tích Núi Hứa: Đây cũng là một bãi triều gần cửa sông Làng Ruộng đổ ra biển, khu vực phát hiện các dấu tích di vật đều nằm trên bề mặt bãi triều dưới chân núi, nơi thường xuyên chịu ảnh hưởng lên xuống của thủy triều.
Bề mặt bãi triều cũng là lớp đất sét bùn và cát, xung quanh khu vực chân đồi có nhiều cây sú, vẹt. Khi khảo sát ở khu vực sườn đồi chúng tôi cũng không thấy có dấu tích di vật mà chỉ thấy ở khu vực bãi triều dọc theo chân đồi. Như vậy, qua kết quả nghiên cứu cho thấy địa tầng khu vực nghiên cứu nhóm di tích này có đặc điểm tương đồng nhau. Các loại hình di vật đều phát hiện trên bề mặt và một phần lớp mặt bên trên của bãi triều, lớp có cấu tạo chủ yếu là cát và bùn sét biển.
Chính đợt biển tiến cực đại ở giai đoạn Holocene trung đã làm mất đi môi trường sống và khai thác của cư dân Hòn Ngò và Núi Hứa, tầng văn hóa có thể đã bị rửa trôi và vùi lấp. Giai đoạn này khi nước biển chưa đạt tới cực đại đã có một bộ phận cư dân ven biển có thể đã cư trú ở đây, tuy nhiên thời gian cư trú không dài cho nên đến khi biển tiến tràn vào đã xoá đi lớp cư trú trong thời gian ngắn đó, cùng với hoạt động của thuỷ triều mà các loại di vật bị trôi dạt và rải rác ở bề mặt bãi triều dưới chân đồi. Đặc trưng di vật Tổng số hiện vật thu được ở di tích Hòn Ngò và Núi Hứa qua các đợt nghiên cứu khảo sát và khai quật là 1337 hiện vật. Các loại hình đồ đá có sự phong phú về loại hình và chất liệu, gồm cả công cụ ghè đẽo và công cụ mài, 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoài ra còn có các loại hình hiện vật như hòn ghè, chày nghiền, phác vật, mảnh tước.
Đồ gốm thời kỳ tiền sơ sử đa số là mảnh vỡ.1: Bảng thống kê tổng hợp hiện vật di tích Hòn Ngò và Núi Hứa Di tích Đồ đá Đồ gốm Tổng % Hòn Ngò 223 908 1131 84,6 Núi Hứa 206 0 206 15,4 Tổng 429 908 1337 100 % 32,1 67,9 (Nguồn: Lưu Văn Phú) 2. Nguyên liệu và chất liệu a. Nguyên liệu Những cư dân khai thác ở di chỉ Hòn Ngò và Núi Hứa sử dụng nhiều loại đá khác nhau để chế tác công cụ. Đều sử dụng đá cuội để chế tác công cụ.
Nguồn cuội này phân bố xunh quanh phạm vi khu di tích. Đây là nguồn đá cuội phân bố có trữ lượng lớn ở khu vực ven biển huyện Tiên Yên, đặc biệt nơi các cửa sông suối đổ ra biển. Qua kết quả khảo sát cho thấy chúng có mặt trên bề mặt ở khu vực cửa sông và trong địa tầng ở đất liền, gần khu vực phân bố của di tích, những vỉa cuội rhyolit biến đổi dày đặc, đặc biệt ở khu vực cửa sông Hà Thanh. Trên đất liền, dọc theo hai sông Hà Thanh và Làng Ruộng có những bãi cuội lớn với mọi kích cỡ và hình dáng khác nhau.
Chúng là loại vật liệu xây dựng rất được nhân dân địa phương sử dụng để xây dựng. Hiện vẫn còn nhiều nhà cửa, chuồng trại và công trình phụ khác của nhân dân được xây bằng loại đá cuội này. Thời tiền sử những bãi cuội ấy là nguồn nguyên liệu vô tận cho con người khai thác để chế tác công cụ. Qua thống kê về kích thước của 270 hiện vật công cụ mũi nhọn, với loại chất liệu chủ yếu là đá cuội rhyolit biến đổi cho thấy: cuội có kích thước dài từ 10cm đến 15cm chiếm số lượng lớn nhất với 193 hiện vật, tiếp đến là công cụ dài từ 6 đến dưới 10cm với 59 hiện vật, còn lại những công cụ có kích thước lớn 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với chiều dài từ 15cm đến 21cm có 16 hiện vật.
Độ dày của viên cuội và công cụ thường nhỏ, chủ yếu dao động từ 3cm đến 6cm với 157 hiện vật, còn lại độ dày dưới 3cm có 113 hiện vật. Về trọng lượng của công cụ đá: Tuy chưa có con số thống kê toàn bộ về trọng lượng của số di vật, tuy nhiên trong đợt điều tra năm 2016 với 36 hiện vật công cụ mũi nhọn có chất liệu chủ yếu là cuội rhyolit thì có 25 hiện vật có trọng lượng từ 300gram đến dưới 600gram, 14 hiện vật có trọng lượng dưới 300gram, chỉ duy nhất 1 hiện vật có trọng lượng 850gram. Vì lẽ đó cho chúng ta thấy các công cụ mũi nhọn có kích thước và trọng lượng khá tương đồng nhau, kích thước và trọng lượng vừa phải, phù hợp với tay cầm. Cuội nguyên liệu ở Hòn Ngò – Núi Hứa được tuyển lựa khá cẩn thận, tỷ mỷ, phù hợp với chức năng của từng loại công cụ được chế tác.
Điều này cho thấy chủ nhân của những công cụ ghè đẽo ở đây đã có những nhận thức rõ ràng trong việc lựa chọn viên cuội để chế tác công cụ, cũng như có trình độ chế tác đá cao. Chất liệu Qua phân tích thạch học cho thấy công cụ sử dụng chủ yếu để chế tác công cụ là đá Rhyolit biến đổi, loại này được sử dụng để chế tác công cụ ghè đẽo. Bên cạnh đó còn có các loại đá sét bột kết biến đổi, đá silic, chủ yếu được sử dụng để chế tác công cụ mài.2: Bảng thống kê chất liệu hiện vật đá Chất liệu Di tích sét bột Tổng % rhyolit silic sa thạch phiến kết Hòn Ngò 157 50 14 1 1 223 52 Núi Hứa 65 138 3 206 48 Tổng 222 188 17 1 1 429 % 51,7 43,8 4,0 0,2 0,2 100 (Nguồn: Lưu Văn Phú) 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đá Rhyolit: Là chất liệu đá chủ yếu với trong tổng số 222 hiện vật, chiếm 51,7% chất liệu đá, chủ yếu là các viên cuội dáng mỏng, hơi dẹt, hạt thô, cứng, trong có tinh thể thạch anh, bề mặt vỏ cuội lỗ trỗ không nhẵn mịn. Loại đá này được sử dụng để chế tác công cụ chặt, mũi nhọn, nạo.
ngoài ra cũng là loại đá chất liệu chủ yếu sử dụng làm hòn ghè. Qua kết quả phân tích thạch học cho thấy đây là loại đá rhyolit bị biến đổi.