Tổng quan nghiên cứu
Tỉnh Khánh Hòa có diện tích tự nhiên 4.626 km2, sở hữu vị trí địa - chiến lược trọng yếu tại duyên hải Nam Trung Bộ với hơn 600 di tích lịch sử - văn hóa. Trong đó, hệ thống thờ phụng Nữ thần Pô Nagar hay Thánh Mẫu Thiên Y A Na chiếm trên 200 di tích, tương đương khoảng 33,3% tổng số cơ sở tín ngưỡng toàn tỉnh. Vấn đề cốt lõi của đề tài tập trung giải mã tiến trình tiếp biến văn hóa, hỗn dung tôn giáo giữa người Chăm bản địa và người Việt di cư sau mốc lịch sử năm 1653, khi vùng đất Kauthara chính thức sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt.
Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc khảo sát toàn diện không gian phân bố, cấu trúc cơ sở thờ tự, hệ thống huyền thoại dân gian và các thực hành nghi lễ liên quan đến Thánh Mẫu. Đề tài làm rõ cơ chế chuyển hóa từ Nữ thần Mẹ Xứ Sở Pô Ino Nagar của người Chăm sang Thánh Mẫu Thiên Y A Na của người Việt, qua đó khẳng định bản sắc văn hóa dung hợp đặc trưng của vùng đất phương Nam. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn tỉnh Khánh Hòa từ vùng duyên hải, đồng bằng châu thổ đến các huyện miền núi, đối chiếu trong tiến trình lịch sử từ thế kỷ XVII đến giai đoạn khảo sát năm 2009.
Ý nghĩa học thuật của luận văn nằm ở việc cung cấp cơ sở dữ liệu dân tộc học hệ thống hóa về một hiện tượng tôn giáo tín ngưỡng bản địa đặc sắc. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu chuẩn xác để giải thích quy luật dung hợp văn hóa tộc người, đồng thời mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc bảo tồn không gian văn hóa lễ hội, phục vụ công tác quản lý di sản và hoạch định chính sách đoàn kết toàn dân tộc tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng hai khung lý thuyết nền tảng trong nhân học và dân tộc học là Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation) và Lý thuyết vùng văn hóa (Cultural Area Theory), kết hợp cùng Lý thuyết hỗn dung tôn giáo (Religious Syncretism). Sự tích hợp các lý thuyết này cho phép xem xét hiện tượng thờ Mẫu không phải là sự sao chép nguyên trạng mà là quá trình tiếp nhận, tái cấu trúc và bản địa hóa linh hoạt của cộng đồng cư dân di cư trên nền tảng văn hóa bản địa tiền trú.
Khung phân tích xoay quanh bốn khái niệm học thuật chủ chốt:
- Nữ thần Mẹ Xứ Sở (Yang Sri Po Nagar): Biểu tượng thiêng liêng tối cao trong thần điện Champa, vị thần sáng tạo đất đai, cây cối và bảo hộ sự sinh tồn của muôn loài.
- Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi: Danh xưng Hán - Việt hóa biểu trưng cho quá trình phong sắc, quy chuẩn hóa thần điện của triều đình phong kiến nhà Nguyễn đối với thần linh bản địa phương Nam.
- Thiết chế tín ngưỡng làng xã Nam Trung Bộ: Cơ chế phối thờ linh hoạt giữa thần bảo trợ nông nghiệp, phúc thần làng xã và các nhiên thần sông biển.
- Phúc thần nghề nghiệp: Vai trò bảo trợ kép của Thánh Mẫu đối với các nhóm cư dân chuyên biệt, tiêu biểu là nghề khai thác trầm hương và ngư nghiệp đánh bắt thủy hải sản.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ nguồn tư liệu thành văn (văn bia Champa, thư tịch cổ triều Nguyễn như Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục) kết hợp nguồn tư liệu khảo sát thực địa dân tộc học. Quá trình thu thập dữ liệu điền dã diễn ra liên tục từ năm 2004 đến năm 2009 tại các huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 13 di tích quốc gia, 55 di tích xếp hạng cấp tỉnh cùng hơn 200 cơ sở thờ tự dân gian lớn nhỏ. Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 45 người cung cấp thông tin then chốt gồm các nghệ nhân múa bóng, thủ từ, bô lão am miếu, cư dân điệu trầm và ngư dân vạn chài. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) kết hợp phân tầng theo địa bàn sinh thái (đồng bằng, duyên hải, miền núi) được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện toàn diện cho các nhóm ngành nghề và môi trường cư trú. Lý do áp dụng phương pháp điền dã dân tộc học kết hợp hồi cố lịch sử là nhằm kiểm chứng giữa ký ức dân gian, hiện tượng tế lễ sống động với các ghi chép văn bản học, từ đó đưa ra cái nhìn khách quan, đa chiều về sự biến đổi biểu tượng thần linh.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện sự phân bố không đồng đều nhưng có quy luật rõ rệt của hơn 200 cơ sở thờ tự Thánh Mẫu. Mật độ đậm đặc nhất tập trung tại các vùng đồng bằng phù sa cổ với hơn 65% số di tích phân bố tại Diên Khánh, Ninh Hòa và Nha Trang. Ngược lại, tại hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh, mật độ này chỉ chiếm khoảng 4,5%, chủ yếu tồn tại ở các chòm xóm của người Việt di cư.
Thứ hai, kết quả khảo sát cho thấy hiện tượng tích hợp chức năng thần linh vào đa dạng ngành nghề mưu sinh. Khoảng 100% các làng vạn chài ven biển (Vạn Ninh, Ninh Diêm, Cam Ranh) đều phối thờ Thánh Mẫu bên cạnh Cá Ông Nam Hải, xem Bà là phúc thần bảo hộ sóng gió nhưng cũng là vị thần uy nghiêm đòi hỏi sự kiêng cữ tuyệt đối. Đồng thời, 100% giới tìm trầm hương (dân đi điệu) duy trì tập tục bái tế Bà Chúa Trầm Hương tại các miếu thờ cửa rừng (Hòn Bà, Suối Đổ, Hòn Dữ) trước mỗi chuyến vào rừng sâu.
Thứ ba, nghiên cứu xác lập danh mục chuyển đổi từ hệ thống đền tháp Champa sang thiết chế thờ tự của người Việt. Toàn tỉnh có 13 di tích xếp hạng cấp quốc gia thì có 02 di tích thờ chính Thiên Y A Na (Tháp Bà Pô Nagar và Am Chúa) cùng 02 di tích liên quan trực tiếp đến truyền thuyết Thánh Mẫu (Phủ đường Ninh Hòa và Đình Phú Cang). Trong 55 di tích cấp tỉnh được khảo sát, có tới hơn 30 đình, đền, miếu phối thờ Thánh Mẫu với tư cách Thượng đẳng thần.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của hiện tượng tiếp nhận tín ngưỡng xuất phát từ nhu cầu xác lập chỗ dựa tâm linh của lưu dân người Việt thế kỷ XVII. Khi tiến vào vùng đất mới nhiều hiểm trở, người Việt đã tiếp thu vị thần cai quản xứ sở của người Chăm để trấn an tâm lý và cầu mong cuộc sống ấm no. Bên cạnh đó, chính sách phong sắc thần linh của các chúa Nguyễn và vua chúa triều Nguyễn đã hợp thức hóa vị thế của Thánh Mẫu, biến một thần linh ngoại tộc thành vị Thần Mẫu bảo quốc an dân của Đại Nam.
So sánh với mô hình Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ ở đồng bằng Bắc Bộ, tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na tại Khánh Hòa mang tính độc tôn thần mẫu rõ rệt. Không gian thờ tự không thiết lập hệ thống Tứ phủ phức tạp với Quan lớn, Chầu bà, Ông hoàng mà tập trung tôn vinh Mẹ Xứ Sở thông qua diễn xướng múa bóng dâng hạt và hát văn thỉnh mẫu mang dấu ấn âm nhạc Champa.
Khi biểu diễn trên biểu đồ phân bố không gian và bảng thống kê di tích, bức tranh tín ngưỡng thể hiện rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa dòng chảy mở đất lịch sử và sự bồi đắp văn hóa bản địa. Sự hiện diện của các am miếu từ rừng sâu, đồng bằng đến vịnh biển phản ánh cấu trúc kinh tế nông nghiệp - lâm nghiệp - ngư nghiệp hoàn chỉnh của cư dân Khánh Hòa.
Đề xuất và khuyến nghị
- Số hóa 100% hệ thống tư liệu văn bia, bài tế Hán - Nôm, bản ghi âm bài văn chầu và hồ sơ khoa học của hơn 200 điểm thờ tự Thiên Y A Na trong giai đoạn 2026-2028, do Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Khánh Hòa chủ trì phối hợp cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành.
- Phục dựng và bảo tồn nguyên bản nghệ thuật múa bóng truyền thống tại Lễ hội Tháp Bà Nha Trang và Am Chúa, nâng tỷ lệ nghệ nhân trẻ kế thừa thuần thục nghi thức lên trên 40% trước năm 2030, do Trung tâm Bảo tồn Di tích tỉnh Khánh Hòa triển khai.
- Quy hoạch tuyến không gian du lịch văn hóa tâm linh liên huyện kết nối cụm Tháp Bà Nha Trang, Am Chúa Diên Khánh và Đình Phú Cang Vạn Ninh, phấn đấu tăng trưởng 25% lượng du khách tham quan tìm hiểu di sản hàng năm, do Sở Du lịch tỉnh Khánh Hòa phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành thực hiện.
- Biên soạn tài liệu giáo dục di sản địa phương về lịch sử giao lưu văn hóa Việt - Chăm để giảng dạy tích hợp trong 100% các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh từ năm học 2027-2028, do Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Khánh Hòa phê duyệt.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Các nhà nghiên cứu Nhân học, Dân tộc học và Tôn giáo học: Tiếp cận hệ thống tư liệu thực địa chi tiết về quy luật giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người tại vùng duyên hải miền Trung.
- Cán bộ quản lý văn hóa và bảo tồn di sản: Sử dụng bộ số liệu khảo sát hơn 200 di tích để xây dựng hồ sơ xếp hạng, trùng tu di tích và lập kế hoạch bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Xã hội: Sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điền dã kết hợp đối chiếu văn bản học lịch sử.
- Chuyên gia phát triển sản phẩm du lịch và quản lý lữ hành: Xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa trải nghiệm giàu chiều sâu học thuật gắn liền với biểu tượng Thánh Mẫu và xứ sở trầm hương.
Câu hỏi thường gặp
Tín ngưỡng thờ Pô Nagar tại Khánh Hòa được người Việt tiếp nhận từ thời điểm nào? Tín ngưỡng này bắt đầu được người Việt tiếp thu mạnh mẽ từ mốc lịch sử năm 1653 khi chúa Nguyễn lập dinh Thái Khang. Lưu dân người Việt định cư đã kế thừa đền tháp Champa tại Kauthara và tôn vinh Nữ thần thành Thánh Mẫu Thiên Y A Na.
Tại sao người Việt lại tiếp nhận nữ thần của người Chăm thay vì chỉ duy trì các tín ngưỡng truyền thống phương Bắc? Khi bước vào vùng đất mới nhiều lam sơn chướng khí và bão tố biển khơi, người Việt có tâm lý sùng bái các vị thần bảo trợ bản xứ để tìm kiếm sự che chở tức thì, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để chung sống hòa bình với cư dân Chăm bản địa.
Nét khác biệt cốt lõi giữa tín ngưỡng thờ Mẫu ở Khánh Hòa so với Đạo Mẫu Bắc Bộ là gì? Tín ngưỡng tại Khánh Hòa tập trung tuyệt đối vào vị Nữ thần Độc tôn Mẹ Xứ Sở, gắn liền với huyền thoại trầm hương và nghệ thuật diễn xướng múa bóng, thay vì hệ thống Tứ phủ đa thần với các giá hầu đồng phong phú như ở Bắc Bộ.
Cư dân điệu trầm (tìm trầm hương) tại Khánh Hòa có mối quan hệ tâm linh ra sao với Thánh Mẫu? Người đi tìm trầm tin rằng 100% kỳ nam và trầm hương trong rừng sâu đều thuộc quyền sở hữu của Thiên Y A Na. Họ phải thực hiện các nghi thức kiêng cữ nghiêm ngặt và dâng lễ cúng bái tại các am miếu trước khi xuất hành.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu tín ngưỡng này đối với khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay là gì? Nghiên cứu làm sáng tỏ truyền thống cộng cư hòa hiếu lâu đời giữa hai tộc người Việt - Chăm, cung cấp luận cứ khoa học để khẳng định tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam và củng cố tinh thần đại đoàn kết dân tộc bền vững.
Kết luận
- Hệ thống thờ phụng Thánh Mẫu Thiên Y A Na tại Khánh Hòa với hơn 200 di tích là minh chứng tiêu biểu cho quy luật tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt - Chăm suốt hơn 350 năm lịch sử.
- Tín ngưỡng thể hiện sự chuyển hóa linh hoạt từ Nữ thần Mẹ Xứ Sở nông nghiệp của người Chăm sang Phúc thần đa chức năng của người Việt, bảo hộ toàn diện từ nghề nông, nghề trầm hương đến ngư nghiệp duyên hải.
- Không gian phân bố hơn 65% tập trung tại các vùng châu thổ chứng minh vai trò hạt nhân của thiết chế tín ngưỡng trong việc tổ chức đời sống văn hóa làng xã truyền thống Đàng Trong.
- Đóng góp học thuật quan trọng của luận văn là hệ thống hóa toàn diện diện mạo di tích, lễ hội và huyền thoại dân gian, tạo tiền đề khoa học cho các chiến lược bảo tồn di sản giai đoạn 2026-2030.
- Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý cần tiếp tục khai thác nguồn tư liệu này nhằm ứng dụng vào công tác bảo tồn di sản bền vững và phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại địa phương.