Chương 1: VĂN TẾ NÔM TRUNG ĐẠI – CHỨC NĂNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 1.Văn tế nôm trung đại – chức năng và đặc điểm thể loại 1. Chức năng của thể loại văn tế Viện sĩ Đ.Likhatsốp từng có một nhận xét về thể loại văn học Nga thời cổ: “Các thể loại văn học nước Nga cổ khác với thể loại của thời đại mới ở một điểm rất căn bản. Sự tồn tại của chúng bị quy định bởi việc áp dụng chúng vào đời sống thực tiễn với một trình độ to lớn hơn nhiều so với thời cận đại. Chúng nảy sinh không những với tính cách những biểu hiện khác nhau của sáng tác văn học mà còn với tính cách những hiện tượng cụ thể của đời sống, của phong tục nước Nga cổ, theo nghĩa rộng nhất của từ này” (dẫn theo [105, tr.
Nhận xét trên cũng có ý nghĩa lý giải cho chúng ta về hệ thống thể loại văn học Việt Nam trung đại nói chung, thể văn tế nói riêng. Những thể loại mang tính chức năng thuần túy là những thể loại mà sự xuất hiện của chúng chịu sự quy định của các yêu cầu thực dụng, gắn liền với đời sống xã hội. Khái niệm chức năng thể loại ở đây dùng để chỉ vai trò, tác dụng của thể loại trong việc biểu đạt những loại nội dung nhất định nào đó. Chức năng của thể văn tế nảy sinh là do mục đích sử dụng ban đầu của bài văn tế trong thực tiễn đời sống dân tộc.
Song mặt khác chức năng của thể loại cũng còn phụ thuộc vào xu hướng định hình giá trị thẩm mĩ cho thể loại ở từng thế hệ tác giả, ở từng thời đại khác nhau. Chức năng truyền thống Văn tế là thể loại gắn với phong tục, nghi thức tang lễ có nguồn gốc lâu đời ở Trung Quốc. Nói đến văn tế là nói đến bài văn để tế người đã chết mang âm điệu bi thương. Ưu Thiên Bùi kỷ cho rằng “đường hoàng và trang trọng” [50, tr.
81] chính là tính chất quan trọng cần có của bài văn tế. Như vậy, xét về mặt văn học, chức năng tiêu biểu nhất của văn tế là dùng để đọc cho người đã mất nghe, qua việc kể tính nết, công đức của họ mà diễn tả lòng kính trọng, tâm trạng tiếc thương của người đứng tế. Chức năng này cho thấy tính chất phổ biến của thể loại trong đời sống tín ngưỡng xưa kia. Người xưa tin rằng chết là sự chuyển đổi sang một dạng thức tồn tại khác ở cõi vĩnh hằng nên thời điểm tiễn đưa người sang thế giới bên kia là thời điểm vô cùng quan trọng, phải hết sức cẩn trọng và thành kính.
Vì thế, có rất nhiều tục lệ, nghi thức trong phong tục tang ma tương truyền đã được quy định trong sách “Thọ Mai gia lễ”1 từ đời Lê. Trong số đó, có việc dùng bài văn tế đọc trước quan tài hoặc trước mộ người đã qua đời, bày tỏ tình cảm trong những mối quan hệ gia đình như văn tế mẹ, văn tế vợ, văn tế chồng, khóc con gái,… Trong trường hợp tang chủ không biết làm văn tế, có thể nhờ người hay chữ nghĩa làm giúp2. Trong những đám tang có tế lễ, người ta thường sử dụng văn tế mà mỗi giai đoạn lại có văn tế riêng. Có thể kể đến văn tế lễ thành phục (đọc khi đã phát tang), văn tế chiêu tịch điện (đọc khi cúng cơm), văn tế lễ thành phần (đọc khi đắp xong mộ phần), văn tế lễ tế ngu (tế 3 ngày sau khi mất),…Như vậy, tên gọi văn tế xuất phát từ chức năng thể loại là một biểu hiện của tín ngưỡng người Việt xưa và nay.
Không chỉ dùng trong khi tưởng nhớ người đã mất trong trường hợp thông thường, văn tế còn dùng để tế hương hồn những người chết oan. Chịu sự chi phối của thế giới quan duy tâm, người ta tin rằng con người chết là chỉ mất đi phần xác, còn phần hồn đi sang một thế giới khác, nó vẫn có thể tồn tại, đi về thăm viếng, phù hộ hay là quấy nhiễu người sống. Những trường hợp chết “bất đắc kì tử” sẽ trở thành những cô hồn không nơi nương tựa lang thang, đói rét. Vì vậy, nhiều nơi vào _________ 1 Do quan niệm sau khi chết, linh hồn sẽ về nơi “thế giới bên kia” nên với người Việt, việc tang ma được xem như việc đưa tiễn.
Quan niệm này được thể hiện từ việc đặt tên hèm (tên thuỵ) cho người sắp chết, trước khi khâm liệm thì làm lễ mộc dục (tắm gội cho người chết), lễ phạm hàm (bỏ một nhúm gạo nếp và ba đồng tiền vào miệng); khi khâm liệm thì đắp mặt người chết bằng miếng vải để khỏi trông thấy con cháu sinh buồn; chôn cất xong thì đặt trên mộ bát cơm, quả trứng, đôi đũa để mong họ đầu thai trở lại,… 2 Trong những tài liệu chúng tôi sưu tầm được, Nguyễn Bá Xuyến là người làm văn tế hộ nhiều nhất: 19/21 bài văn tế Nôm [80, tr. 68 - 219] rằm tháng bảy âm lịch có tục cúng cô hồn, nhờ bát cháo lá đa, nén nhang tình nghĩa nhằm giúp họ thoát khỏi kiếp cô hồn bơ vơ lạc lõng. Những bài văn tế thực hiện chức năng nhân văn ấy không phải dùng để tế một người cụ thể, cũng không phải tế nhiều người chết trong cùng hoàn cảnh mà là bài văn tế chung cho nhiều loại người khác nhau trong xã hội “Mười loài là những loài nào?/ Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh”. “Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du là một sáng tác tiêu biểu nói lên sự gắn kết giữa tinh thần từ bi, bác ái của nhà Phật và tín ngưỡng dân gian như thế.
Chức năng phi truyền thống Khái niệm truyền thống và phi truyền thống ở đây để chỉ sự phân biệt mục đích sử dụng của những bài văn tế với tư cách là những sáng tác văn học đích thực. Thực tế, có những bài văn tế đi ra ngoài địa hạt của một bài tế thông thường để gánh vác một nhiệm vụ mới: đọc cho đối tượng nghe ngay trong lúc còn sống. Chức năng này khiến chúng ta nghĩ tới một lễ gọi là “lễ tế sống” trong phong tục đời xưa. Lễ này thường được tổ chức trong những gia đình khá giả, có điều kiện.
Cách thức tổ chức như lễ tế thần: Người được tế sống (ông, bà, cha, mẹ) ngồi trên sập để nghe văn tế chúc mừng và nhận lễ bái trà, rượu. Bài văn tế này do con trưởng soạn hoặc nhờ người khác làm giúp. Đây là hình thức mừng thọ thể hiện lòng hiếu của con cháu với người lớn tuổi. Hình thức này có lẽ không còn tồn tại trong thời đại ngày nay song có thể thấy rằng xem xét chức năng thể loại cũng cần xem xét từ cội gốc của nó là đời sống tín ngưỡng, tập quán của nhân dân.
Đứng từ góc độ văn học, không thiếu những sáng tác văn tế thực hiện chức năng này, tiêu biểu là bài “Văn tế Phan Bội Châu” do cụ Huỳnh Thúc Kháng chắp bút và đọc cho cụ Phan nghe ngay trong lúc Phan tiên sinh còn tại thế nhằm ngợi ca tài năng, chí khí của một nhà chí sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX. Trong trường hợp này, nội dung của bài tế bao gồm những lời lẽ chúc tụng nên cũng được gọi là văn chúc. Cũng vậy, có những bài văn tế về mặt hình thức vẫn được bảo lưu- theo lối phú nhưng chức năng thì đã khác hẳn. “Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu” (Nguyễn Du), “Văn tế sống vợ” (Trần Tế Xương), “Văn tế sống” (Khuyết danh),… hoàn toàn không biểu hiện cảm xúc bi thương mà nhằm cười cợt, bông đùa một cách nhẹ nhàng, dí dỏm.
Thời hiện đại cũng có rất nhiều bài dùng cho mục đích đả kích, tố cáo những kẻ cướp nước, bán nước xấu xa như “Văn tế bảo hộ”, “Văn tế sống Vĩnh Thụy” (Tú Mỡ), “Văn tế Crútxô” (Trần Văn Từ), “Văn tế tiễn hoàng thượng đi Tây”, “Văn tế 111 nghị cừu” (Đồ Phồn),… hay để chế giễu những thói hư tật xấu trong dân như “Văn tế thuốc phiện”, “Văn tế cô đầu” (Khuyết danh). Như vậy, có thể thấy, tiếp cận văn tế là tiếp cận với một thể loại mang tính chức năng, giá trị của tác phẩm không chỉ phụ thuộc vào người sáng tác mà còn phụ thuộc vào đối tượng, mục đích, thời đại… Nhưng thực tế đời sống thể loại trong văn học cho thấy, hầu hết những sáng tác văn tế đã vượt khỏi phạm vi của một thể loại chức năng, vươn tới tầm cao nghệ thuật và mang những giá trị tư tưởng đáng quý. Đặc điểm thể loại Văn tế có nghĩa chung là “bài văn đọc khi cúng tế”, trong đó có văn tế thần thánh, năm, mùa màng, người chết (vài trường hợp tế người sống), một số bài văn tế có nội dung trào lộng, đả kích, châm biếm. Tuy nhiên, khi nói đến thể loại văn tế trong hệ thống thể loại văn học trung đại Việt Nam, người ta thường chỉ nghĩ tới loại văn tế người chết, bởi vì đây là loại chiếm số lượng nhiều và có giá trị cao ở nhiều phương diện.
Các nhà nghiên cứu khi viết về thể văn tế đều khẳng định tiểu loại này. Trong “Quốc văn cụ thể”, nhà nghiên cứu Bùi Kỷ ghi nhận “Văn tế là bài văn viếng một người đã thác rồi hoặc là dùng vào việc tế lễ” [50, tr. Bằng một cách nói cụ thể hơn, nhà giáo, nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm định nghĩa đó là “bài văn đọc lúc tế một người chết để kể tính nết, công đức của người ấy và tỏ tấm lòng kính trọng thương tiếc của mình” [33, tr. Sách “Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa: “Văn tế là thể văn gắn với phong tục tang lễ, chủ yếu nhằm bày tỏ sự thương tiếc của tác giả và của những người thân đối với người đã mất” [34, tr.
349],… Từ các định nghĩa trên, qua xem xét những văn bản văn tế cụ thể, ta thấy một bài văn tế thường mang hai nội dung chủ yếu là kể về cuộc đời, tính cách, hành trạng của người đã khuất và bộc lộ tình cảm, thái độ của người sống. Khi đã trở thành tác phẩm văn học thì sắc thái biểu cảm và thẩm mĩ của mỗi bài văn tế cụ thể sẽ khác nhau tùy theo đối tượng (người được tế), chủ tế (tác giả), mục đích và đối tượng tác động (người đọc, người nghe). Song văn tế không chỉ là một thể loại văn học mà còn là hiện tượng của đời sống, phong tục, tín ngưỡng. Từ xưa tới nay, mối bận tâm lớn nhất của con người là sự sống và cái chết.