ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xưa con người đã sử dụng nhiều loài động vật làm nguồn thực phẩm, nguồn dược liệu trong cuộc sống hằng ngày và nó được duy trì qua nhiều thế hệ. Nhiều sản phẩm có nguồn gốc từ động vật đang được chế biến thành hàng thủ công mỹ nghệ được con người ưa chuộng và sử dụng nhiều. Nhiều loài có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu khoa học hay chữa bệnh. Động vật rừng còn có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh sự cân bằng hệ sinh thái rừng.
Bò sát, Ếch nhái là một bộ phận quan trọng trong tài nguyên động vật rừng. Nó là một mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn. Bên cạnh những nguồn tài nguyên động vật khác như chim và thú thì nguồn tài nguyên Bò sát, Ếch nhái có ý nghĩa quan trọng đối với tự nhiên cũng như cuộc sống của con người đặc biệt là người dân vùng nông thôn và vùng núi. Trong tự nhiên Bò sát, Ếch nhái là một lực lượng tiêu diệt những loại côn trùng gây hại cho các giống cây trồng và vật nuôi cũng như con người.
Trong cuộc sống thì Bò sát, Ếch nhái là nguồn thức ăn hằng ngày trong cuộc sống nhân dân ta. Hiện nay, khi chất lượng cuộc sống được nâng cao thì yêu cầu về chất lượng thực phẩm ngày càng tăng, những loại thực phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên rất được ưa chuộng và giá thành rất cao. Càng ngày thì nhu cầu này càng tăng lên trong đó nhiều loài là nguồn thực phẩm có giá trị kinh tế cao và được nhân dân ta ưa thích như: Ba Ba, Trăn, Rắn, Êch nhái… Có nhiều loại là nguồn dược liệu quan trọng phục vụ cho con người. Trong khoa học thì Ếch nhái còn được dùng để thực hiện nhiều thí nghiệm quan trọng.
Tuy nhiên, hiện nay nguồn tài nguyên Bò sát, Ếch nhái nói riêng cũng như nhiều nguồn tài nguyên khác nói chung đang bị khai thác mạnh và số lượng của chúng đang bị suy giảm nhiều trong tự nhiên. Có nhiều loài đã trở nên rất hiếm và một số loài đã đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng bởi vì chúng có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa chuộng nên bị săn bắt nhiều khiến số lượng chúng bị suy giảm mạnh trong tự nhiên. Có nhiều loài do mất 1 sinh cảnh sống bởi các hoạt động đốt rừng làm nương rẫy và khai thác rừng trái phép làm cho môi trường sống ngày càng bị thu hẹp. Thực trạng cuộc sống của người dân nước ta hiện nay là có số người dân sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng với số lượng lớn.
Cuộc sống của họ phụ thuộc vào những nguồn tài nguyên mà rừng cung cấp để phục vụ cho cuộc sống hằng ngày nên cho dù có cấm khai thác các nguồn tài nguyên thì họ vẫn vào rừng khai thác để phục vụ cho cuộc sống hằng ngày của gia đình họ. Vì nhu cầu mưu sinh nên họ tiến hành săn bắt, buôn bán trái phép các động vật hoang dã. Phần lớn những loài được buôn bán chủ yếu là các loài Bò sát như Rùa, Rắn, Ba Ba…vì chúng có giá trị kinh tế cao, còn những loại Ếch nhái thì phục vụ cho nhu cầu hằng ngày của người dân địa phương. Trước những nguyên nhân như thế nên hiện nay việc bảo vệ nguồn tài nguyên Bò sát, Ếch nhái trở nên quan trọng và có ý nghĩa thực tế để duy trì tính đa dạng sinh học cũng như bảo vệ sự cân bằng của hệ sinh thái.
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát chính thức được thành lập ngày 28/12/1995 theo quyết định 2255/QD-UB của UBND tỉnh Nghệ An trên cơ sở kết hợp hai vùng bảo vệ Anh Sơn và Thanh Chương trước đây.Trong những năm gần đây đã có những nghiên cứu đa dạng sinh học ở khu vực vườn quốc gia Pù Mát và đã đạt được những kết quả nhất định. Nằm trên sườn đông của giải Trường Sơn, về phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An, có độ cao tuyệt đối giaao động từ 100m đến 1841m. Đỉnh cao nhất trong toàn khu vực là đỉnh Pù Mát, được lấy tên đặt cho khu bảo tồn, cao 1841m nằm trên giả núi chính và cũng từ đâyhình thành các giả phụ có độ dốc lớn chạy dài theo hướng Đông Bắc, có độ cao trung bình 800m – 1000m. Nhằm góp phần hoàn thiện thêm những hiểu biết về các nguồn tài nguyên có trong khu vực, bảo vệ tài nguyên rừng và các tài nguyên đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ và tình hình sử dụng tài nguyên Bò sát, Ếch nhái tại Vườn quốc gia Pù Mát” làm cơ sở cho công tác bảo vệ tài nguyên, góp phần vào công tác bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên động vật rừng.
2 Phần 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Điều tra xác định thành phần loài Bò sát- ếch nhái trên thế giới Cho đến nay, trên thế giới đã ghi nhận được 6.433 loài Bò sát- ếch nhái thuộc 59 họ, 3 bộ, trong đó: bộ Không đuôi (Anura) có 5679 loài, 47 họ; bộ Có đuôi (Caudata) 580 loài, 9 họ; bộ Không chân (Apoda) có 174 loài, 3 họ (Frost, 2009). Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng: Rừng nhiệt đới là nơi đa dạng nhất về thành phần loài ếch nhái. Ví dụ, ở Thái Lan là một trong các quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới và được đánh giá có khu hệ ếch nhái khá phong phú.
Theo thống kê, tổng số có 130 loài ếch nhái, thuộc 8 họ và 3 bộ được ghi nhận. Số lƣợng các taxon ếch nhái tại một số nƣớc Đông Nam Á Bộ Không chân Bộ Có đuôi Bộ Không đuôi Tổng số Tên nước Số họ Số loài Số họ Số loài Số họ Số loài Số họ Số loài Lào 1 1 1 1 5 58 7 60 Myanmar 0 0 1 1 5 81 6 82 Philippin 1 3 0 0 6 93 7 96 Thái Lan 1 4 1 1 7 107 9 112 Việt Nam* 1 1 1 5 9 163 11 174 Malaysia 1 7 0 0 5 193 6 200 Indonesia 1 10 0 0 8 246 9 256 Nguồn: Bùi Thị Hà, 2003; *Nguyễn Văn Sáng et al., 2009 Cho đến nay, có rất nhiều phương pháp nghiên cứu về thành phần loài của ếch nhái đã được áp dụng như điều tra theo tuyến, ô tiêu chẩn, bẫy hố và điều tra theo tiếng kêu. Tùy vào điều kiện cụ thể, mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng.M (2003), khi nghiên cứu về thành phần loài ếch nhái, bò sát ở rừng mưa nhiệt đới đã sử dung hai phương pháp: Điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn. Dựa trên kết quả phân tích, tác giả đã đưa ra 3 nhận định: Số lượng cá thể ếch nhái, bò sát thu được khi tiến hành điều tra theo tuyến nhiều hơn khi sử dụng phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn (ô có dạng hình vuông).
Ngoài ra, nhiều loài quan trọng cũng đã được ghi nhận bằng phương pháp điều tra theo tuyến. Tuy nhiên, khi điều tra một loài ở sinh cảnh cụ thể, việc điều tra theo phương pháp lấy mẫu theo ô tiêu chuẩn là tốt hơn. Trong các cuộc điều tra dài hạn, thì hai phương pháp đó có hiệu quả tương đương, xét về số lượng loài và cá thể thu được. Theo thống kê gần 1/3 số loài Bò sát- ếch nhái trong tổng số 6433 loài trên thế giới đứng bên bờ vực của sự tuyệt chủng và 200 loài đã không được ghi nhận trong những năm gần đây.
Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có liên quan đến sự gia tăng dân số và hoạt động sống của con người. Cụ thể, có 6 nguyên nhân chính dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng của các loài ếch nhái làm giảm tính đa dạng sinh học: Phá hủy sinh cảnh, lây nhiễm bệnh tật, ô nhiễm thuốc trừ sâu, biến đổi khí hậu, loài ngoại lai xâm hại và săn bắt quá mức. Điều tra xác định thành phần loài Bò sát- ếch nhái ở Việt Nam Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ bò sát, ếch nhái được thực hiện bởi Morice (1875) ở miền Nam Việt Nam. Tác giả đã thống kê được 114 loài bò sát và 13 loài ếch nhái.
Tirant(1885), trong một công trình nghiên cứu về bò sát, êch nhái Việt Nam và Campuchia,đã xác định được 116 loài bò sát, ếch nhái. Trong đó, có 17 loài ếch nhái: 16 loài thuộc bộ Không đuôi (Anura) và một loài thuộc bộ Không chân (Gymnophiona ). So với Morice (1875), số loài phát hiện còn nhiều hơn do mở rộng khu vực nghiên cứu. Trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944 với công trình của Bourret R.
đã thống kê mô tả được 177 loài và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trên toàn Đông Dương, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam. Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu của 4 Bourret R. có nói nhiều đến Bò sát , Ếch nhái Bắc Trung Bộ. Ông công bố bổ sung nhiều loài cho danh lục Bò sát, Ếch nhái (Bourret R.
Trong giai đoạn 1945đến 1954 không có ghi nhận mới cho khu hệ ếch nhái ở Việt Nam do ảnh hưởng của chiến tranh. Sau khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng (năm 1954) và từ năm 1956 nghiên cứu ếch nhái được tiếp tục và đẩy mạnh. Trong thời gian này, các công trình nghiên cứu về ếch nhái do các nhà khoa học trong nước đảm nhiệm. Kết quả điều tra đạt được như: năm-1976 Trần Khiêm cùng cộng sự đã ghi nhận được 68 loài ếch nhái.
Năm 1977, Đào Văn Tiến đã công bố danh lục và khóa định loại cho 87 loài ếch nhái ở Việt Nam, trong đó có 85 loài ếch nhái không đuôi, 1 loài cá cóc và một loài ếch giun. Năm 1979, nghiên cứu xây dựng khóa định loại Thằn Lằn Việt Nam và thống kê 77 loài thằn lằn trong đó có 6 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam. Năm 1981-1982, nghiên cứu các đặc điểm phân loại, xây dựng khóa định loại và đã xác định ở Việt Nam có 167 loài rắn thuộc 9 họ, 69 giống. Năm 1985, Trần Kiên, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Văn Sáng báo cáo danh lục khu hệ bò sát, êch nhái Việt Nam gồm 160 loài Bò sát, 90 loài Ếch nhái.
Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lý, theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài. Những nghiên cứu về ếch nhái được đẩy mạnh từ những năm 1990 trở lại đây. Việc thành lập các VQG, Khu BTTN đòi hỏi phải tiến hành khảo sát và đánh giá cụ thể về hiện trạng nguồn tài nguyên sinh vật nhằm tạo cơ sở cho việc lập kế hoạch quản lý.