Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Hữu Hào (khoa Quản lý Tài nguyên Rừng & Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp, hoàn thành tháng 5 năm 2011 dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Đắc Mạnh) tiếp cận đối tượng nghiên cứu là lớp Bò sát (Reptilia) và lớp Ếch nhái (Amphibia) tại Vườn quốc gia (VQG) Pù Mát, tỉnh Nghệ An. Bò sát và ếch nhái giữ vai trò mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn, cân bằng hệ sinh thái rừng nhiệt đới và tiêu diệt các loài côn trùng gây hại. Trong đời sống nhân dân vùng cao, nguồn tài nguyên này cung cấp thực phẩm giàu đạm, dược liệu quý và là đối tượng phục vụ thí nghiệm sinh học. Tuy nhiên, áp lực gia tăng dân số, tập quán canh tác nương rẫy làm mất sinh cảnh sống và nạn khai thác, săn bắt thương mại trái phép các loài có giá trị cao (rùa, rắn, ba ba, kỳ đà...) đang đẩy nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (chính thức thành lập ngày 28/12/1995 theo Quyết định số 2255/QĐ-UB của UBND tỉnh Nghệ An, sau đó nâng hạng thành Vườn quốc gia) nằm trên sườn Đông dải Trường Sơn Bắc, có diện tích vùng lõi 91.113 ha với độ cao tuyệt đối từ 100 m đến 1.841 m (đỉnh Pù Mát). Mặc dù có tính đa dạng sinh học cao, các công trình khảo sát chuyên sâu về khu hệ lưỡng cư - bò sát tại đây trước năm 2011 còn phân tán. Đề tài được triển khai nhằm cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quản lý và bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên này.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 4 nội dung:
- Đánh giá giá trị bảo tồn của khu hệ Bò sát, ếch nhái ở Vườn quốc gia Pù Mát.
- Đánh giá hiện trạng quần thể của một số loài Bò sát, ếch nhái tại xã Châu Khê.
- Phát hiện kiến thức bản địa liên quan đến tài nguyên Bò sát, ếch nhái.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học Bò sát, ếch nhái tại Vườn quốc gia Pù Mát.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài động vật thuộc lớp Bò sát (Reptilia), lớp Ếch nhái (Amphibia) ghi nhận tại Vườn quốc gia Pù Mát và cộng đồng cư dân sinh sống tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi không gian và thời gian: Toàn bộ diện tích tự nhiên VQG Pù Mát; trong đó các đợt thực địa ngoại nghiệp, điều tra thực địa theo tuyến, phỏng vấn cộng đồng và khảo sát tri thức bản địa được tập trung thực hiện tại địa bàn xã Châu Khê (khu vực trạm Kiểm lâm Khe Bu và các bản lân cận). Thời gian hoàn thành khóa luận vào tháng 5 năm 2011.
Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng gồm 4 mảng việc chính:
- Điều tra xác định thành phần loài Bò sát, ếch nhái tại Vườn quốc gia Pù Mát.
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể các loài Bò sát, ếch nhái tại xã Châu Khê.
- Tìm hiểu tình hình săn bắt, sử dụng và bảo vệ tài nguyên Bò sát, ếch nhái tại khu vực xã Châu Khê.
- Nghiên cứu các mối đe dọa đến Bò sát, ếch nhái và sinh cảnh sống của chúng tại Vườn quốc gia Pù Mát.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu phân loại học sinh vật, sinh thái học thực địa và điều tra xã hội học lâm nghiệp có sự tham gia của người dân bản địa.
Khung phân loại và căn cứ pháp lý:
- Hệ thống định loại hình thái học dựa trên khóa phân loại Bò sát, Ếch nhái của Đào Văn Tiến (1981).
- Danh pháp khoa học, tên phổ thông và khung phân loại bộ, họ, giống được cập nhật đồng bộ theo danh mục của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2008).
- Đánh giá giá trị bảo tồn dựa trên: Sách Đỏ thế giới của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2010), Sách Đỏ Việt Nam (phần Động vật, 2007) và Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế đã sử dụng:
- Phương pháp hồi cứu tư liệu: Khai thác có chọn lọc các bài báo khoa học chuyên ngành, kỷ yếu hội nghị, sách chuyên khảo và các báo cáo khảo sát tiền trạm, báo cáo dự án điều tra của Tổ chức Động thực vật thế giới (FFI).
- Phương pháp phỏng vấn bán định hướng: Làm việc với cán bộ kiểm lâm VQG (đặc biệt là trạm Kiểm lâm Khe Bu) và những thợ săn, người dân giàu kinh nghiệm tại xã Châu Khê. Sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc kết hợp tranh ảnh màu chuẩn để xác định tên loài, tên địa phương, tập tính, tần suất xuất hiện và lịch sử khai thác.
- Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến và điểm:
- Tuyến khảo sát được vạch qua các sinh cảnh đặc trưng (khe suối, rừng phục hồi, nương rẫy, rừng giàu ít bị tác động). Tác giả thiết lập các tuyến chính và nhánh cắt ngang: Khe Chát, Khe Nóng, Khe Nà, Thác Nguồn, Làng Diềm, Khe Khuông, Khe Khố...
- Quan sát mở rộng sang hai bên tuyến (mỗi bên rộng 2 m). Điều tra viên di chuyển chậm, vạch bụi cỏ, xua gậy nhẹ vào tầng thảm mục và hốc đá. Kết hợp khảo sát ngày và soi đèn ban đêm để tìm kiếm các loài hoạt động về đêm. Ghi nhận gián tiếp qua tiếng kêu, hang hốc, vết chân, bọt trứng.
- Bắt mẫu bằng tay hoặc vợt chuyên dụng. Đo đạc các chỉ tiêu hình thái (chiều dài thân, đuôi, chân, bàn chân, ngón chân, chiều rộng đầu, mõm...) và khối lượng cá thể.
- Phương pháp bảo quản mẫu vật: Mẫu vật sau khi thu thập được gây chết nhân đạo bằng cồn 90°. Đối với mẫu có kích thước lớn, tiến hành mổ bụng lấy nội tạng, rửa sạch bằng nước rồi tráng lại cồn 90°, sau đó bảo quản cố định trong dung dịch cồn 90°.
- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Thảo luận nhóm chuyên sâu với thợ săn giàu kinh nghiệm nhằm khai thác tri thức bản địa về kỹ thuật săn bắt, mùa vụ, tập quán ẩm thực, công thức làm thuốc cổ truyền và quy ước bảo vệ động vật hoang dã của thôn bản.
- Phương pháp đánh giá giảm thiểu mối đe dọa (TRA - Threats Reduction Assessment): Áp dụng mô hình của Margoluis và Salafsky (2001) để phân cấp 8 mối đe dọa chính dựa trên 3 tiêu chí chấm điểm từ 1 đến hết: Phạm vi tác động (tỷ lệ diện tích bị ảnh hưởng), Cường độ tác động (mức độ suy thoái đa dạng sinh học) và Mức độ cấp thiết (thời điểm diễn ra mối đe dọa). Tổng điểm của 3 tiêu chí được dùng để xếp hạng ưu tiên can thiệp.
- Công thức tính toán hiệu suất tìm kiếm ($X$):
$$X = \frac{m}{H}$$
Trong đó: $X$ là hiệu suất tìm kiếm (cá thể/giờ); $m$ là số cá thể của loài tìm thấy; $H$ là tổng thời gian tìm kiếm của các điều tra viên ($H = \sum_{i=1}^N n_i$ với $n_i$ là thời gian tìm kiếm của điều tra viên thứ $i$, $N$ là tổng số điều tra viên).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng kết bức tranh đa dạng sinh học lưỡng cư - bò sát từ quy mô toàn cầu, khu vực Đông Nam Á đến Việt Nam và lịch sử nghiên cứu tại VQG Pù Mát:
- Trên thế giới, tài liệu dẫn số liệu của Frost (2009) ghi nhận 6.433 loài bò sát, ếch nhái thuộc 59 họ, 3 bộ (bộ Không đuôi Anura chiếm 5.679 loài/47 họ; bộ Có đuôi Caudata chiếm 580 loài/9 họ; bộ Không chân Apoda chiếm 174 loài/3 họ). Thống kê chỉ ra gần 1/3 số loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng và hơn 200 loài không còn được ghi nhận gần đây do 6 nguyên nhân: phá hủy sinh cảnh, bệnh tật, ô nhiễm thuốc trừ sâu, biến đổi khí hậu, loài ngoại lai xâm hại và săn bắt quá mức.
- Ở Đông Nam Á, rừng nhiệt đới ghi nhận mức độ đa dạng cao (Việt Nam có 174 loài ếch nhái thuộc 11 họ, 3 bộ; đứng sau Indonesia với 256 loài và Malaysia với 200 loài).
- Lược sử nghiên cứu tại Việt Nam được hệ thống qua các mốc thời gian: Morice (1875), Tirant (1885), Bourret (1924-1944), Đào Văn Tiến (1977-1982), Trần Kiên (1976, 1985), Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (1996, 2005, 2008, 2009).
- Tại VQG Pù Mát, các cuộc điều tra khởi đầu từ năm 1992 (ghi nhận bước đầu 25 loài bò sát, 15 loài ếch nhái); chương trình của FFI (1998-1999) ghi nhận 23 loài ếch nhái, 48 loài bò sát; Lê Nguyên Ngật và cs. (2000) ghi nhận 14 loài rùa; FFI (2003-2004) nâng số loài ếch nhái lên 33 loài; Chu Văn Đại (2006) thống kê 50 loài bò sát; Nguyễn Văn Hào (2006) thống kê 29 loài ếch nhái.
Phần 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của Vườn quốc gia Pù Mát
Chương này mô tả chi tiết nền tảng sinh cảnh và môi trường vật lý tại khu vực nghiên cứu:
- Địa lý: Toạ độ 18°46'30" - 19°12'42" vĩ Bắc, 104°31'57" - 105°03'08" kinh Đông; có 61 km đường biên giới giáp Lào; diện tích vùng lõi 91.113 ha (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 89.517 ha) nằm trên địa bàn 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương.
- Địa hình - địa mạo: Chia cắt phức tạp bởi 3 hệ suối chính (khe Thơi, khe Choăng/khe Bu, khe Khặng) bắt nguồn từ biên giới đổ vào sông Cả. Gồm 4 kiểu địa mạo: Núi cao trung bình (biên giới Việt - Lào, đỉnh Pulaileng 2.711 m, Rào Cỏ 2.286 m); Núi thấp và đồi cao (dưới 1.000 m, chiếm đa số); Thung lũng kiến tạo, xâm thực (dưới 300 m); Khối đá vôi nhỏ karst (khoảng 7.057 ha, phần lớn ở vùng đệm, khoảng 150 ha trong vùng lõi).
- Thổ nhưỡng: Tổng diện tích vùng (gồm cả vùng đệm) là 194.668 ha; gồm đất Feralit đỏ vàng đồi núi thấp (151.017 ha, chiếm 77,6%), đất Feralit mùn trên núi trung bình (34.511 ha, chiếm 17,7%), đất dốc tụ và phù sa ven sông suối (9.140 ha, chiếm 4,7%), đất núi đá vôi (7.057 ha, chiếm 3,6%).
- Khí hậu - thủy văn: Nhiệt độ trung bình năm 23 - 24°C, cực đại 42,7°C (tháng 5 tại Tương Dương), cực tiểu 1,7°C (tháng 1 tại Tương Dương). Chịu ảnh hưởng gay gắt của gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng từ tháng 4 đến tháng 7 và gió mùa Đông Bắc lạnh từ tháng 11 đến tháng 3. Lượng mưa trung bình năm biến động từ 1.268,3 mm (Tương Dương) đến 1.791,1 mm (Con Cuông), độ ẩm bình quân 81 - 86%. Nguồn nước mặt trên 3 tỷ m³ phân bố không đều.
- Tài nguyên rừng và động vật: Rừng tự nhiên che phủ 84.065 ha (rừng trung bình 29.477 ha, rừng phục hồi 3.752 ha, rừng tre nứa và hỗn giao tre nứa trên 4.500 ha). Hệ động vật ghi nhận 132 loài thú (với các loài biểu tượng: Sao la, Mang lớn, Mang Trường Sơn, Thỏ vằn, Vượn đen má trắng), 313 loài chim, 39 loài dơi, 84 loài cá, 52 loài bò sát đã biết trước đó.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là phần trọng tâm chứa đựng các dữ liệu nguyên gốc do tác giả thu thập và xử lý:
- Thành phần loài: Lập danh lục tổng thể gồm 87 loài Bò sát - Ếch nhái thuộc 21 họ, 4 bộ. Cơ cấu nguồn phát hiện gồm: 20 loài quan sát trực tiếp ngoài thực địa, 13 loài qua mẫu vật, 54 loài qua tài liệu và 37 loài qua phỏng vấn. Đề tài bổ sung 1 loài mới cho danh lục VQG Pù Mát là Rùa trung bộ (Mauremys annamensis - ghi nhận qua phỏng vấn và mẫu vật thợ săn tại khu vực trạm Cao Vều).
- Khảo sát thực địa và hiệu suất tìm kiếm tại xã Châu Khê: Tiến hành điều tra trên 7 khu vực sinh thái với tổng thời gian quan sát khác nhau:
- Khe Nóng (12,5 giờ - Rừng giàu ít bị tác động): Ghi nhận Cóc rừng (1 cá thể), Ếch suối (6), Rồng đất (1), Rắn ráo thường (1), Kỳ đà vân (2).
- Khe Chát (6,5 giờ - Rừng thứ sinh sau khai thác): Ghi nhận Ếch suối (3), Ếch xanh (2), Nhái bầu môn (1), Nhái bầu vân (3).
- Khe Nà (7,6 giờ - Rừng thứ sinh, đất trống): Tắc kè (1), Rắn nước (1), Rắn bồng chì (1), Ếch cây mép trắng (2), Rồng đất (1).
- Làng Diềm (5,5 giờ - Rừng thứ sinh sau khai thác): Rắn hổ chúa (1), Rắn cạp nong (1), Nhái bầu vân (3), Cóc nhà (3), Thằn lằn bóng hoa (2).
- Khe Ngang (12,4 giờ - Đất trống, nương rẫy bản): Rắn ráo trâu (1), Cóc nhà (2), Ếch đồng (1).
- Khe Luồng (3,7 giờ - Rừng hỗn giao tre nứa): Ếch xanh (1), Ếch suối (2), Nhái bầu vân (1), Cóc rừng (1).
- Khe Ngọa (6,5 giờ - Thủy vực khe suối): Nhái bầu vân (1), Rắn nước (1), Ếch suối (2).
Hiệu suất tìm kiếm ($X$) của một số loài tiêu biểu: Ếch xanh (0,31 cá thể/giờ), Ếch cây mép trắng (0,26), Cóc nhà (0,08), Nhái bầu môn (0,13), Thằn lằn bóng hoa (0,16), Rắn ráo thường (0,15), Rắn bồng chì (0,13), Rắn hổ chúa (0,18), Rắn cạp nong (0,18).
- Tri thức bản địa về khai thác và sử dụng:
- Săn bắt: Dùng đèn soi ban đêm, gậy, vợt. Riêng săn Rùa thường diễn ra từ tháng 3 đến tháng 5, thợ săn dẫn theo chó săn đi sâu vào rừng dài ngày (từ một tuần đến cả tháng).
- Ẩm thực: Sơ chế chặt đầu, lột da, bỏ nội tạng, bàn chân. Chế biến thành 11 món dân dã: Ếch xào khế, Ếch tẩm bột rán, Ếch nấu chuối xanh (kèm mắm tôm, mẻ), Ếch nướng xiên, Ếch xào miến, Cóc rán, Cóc băm viên, Cháo cóc, Nhái kho mẻ sả, Nhái kho măng chua, Ếch xào nấm. Với bò sát có các món: cháo tắc kè, chả rùa/cháo rùa, rắn nướng than, rắn băm viên quấn lá lốt rán.
- Dược liệu cổ truyền: Ruốc cóc (thịt đùi cóc sấy giã mịn) chữa còi xương suy dinh dưỡng trẻ em; Bánh cóc (thịt cóc băm viên quấn lá lốt rán) chữa hôi miệng, thâm quầng mắt; Rượu ngâm Tắc kè (đã bỏ mắt, lưỡi) chữa đau nhức xương khớp, hen suyễn trẻ em; Rượu ngũ xà/tam xà (Rắn ráo, Rắn hổ mang, Rắn hổ chúa mổ bỏ ruột ngâm rượu nồng độ cao 5-6 tháng) trị đau lưng, mỏi cơ xương.
- Đánh giá áp lực và phân cấp mối đe dọa (TRA):
- Tình hình khai thác gỗ: Số liệu kiểm lâm thu giữ giai đoạn 1997 - 2010 gồm 723 vụ, tổng khối lượng tịch thu là 1.105,071 m³ (gồm 790,689 m³ gỗ xẻ và 314,392 m³ gỗ tròn).
- Thu giữ lâm sản ngoài gỗ (1999 - 2004): 2.850 sợi song mây, 1.800 kg rễ chay, 2.000 kg rễ hoàng đàn, 175 chai mật ong.
- Tịch thu động vật hoang dã (1996 - 2007): Các năm 2002 - 2005 có số lượng vụ và cá thể bị bắt giữ cao nhất (năm 2002: 13 loài/440 cá thể; năm 2004: 23 loài/315 cá thể; năm 2005: 22 loài/373 cá thể).
- Xếp hạng áp lực theo phương pháp TRA:
| Thứ hạng |
Mối đe dọa |
Phạm vi (1-8) |
Cường độ (1-8) |
Tính cấp thiết (1-8) |
Tổng điểm TRA |
| I |
Săn bắt động vật hoang dã |
7 |
8 |
7 |
22 |
| II |
Khai thác gỗ |
6 |
7 |
8 |
21 |
| III |
Khai thác lâm sản ngoài gỗ |
8 |
6 |
3 |
17 |
| IV |
Phá rừng làm nương rẫy |
5 |
4 |
4 |
13 |
| V |
Chăn thả gia súc |
4 |
5 |
2 |
11 |
| VI |
Khai thác vàng và khoáng sản |
2 |
2 |
6 |
10 |
| VII |
Cháy rừng |
1 |
1 |
5 |
7 |
| VIII |
Xây dựng cơ sở hạ tầng |
3 |
3 |
1 |
7 |
Phần 5: Thảo luận
- Đa dạng bậc phân loại: Khu hệ gồm 4 bộ, 21 họ, 87 loài:
- Bộ Có vảy (Squamata): Đa dạng nhất với 11 họ, 37-38 loài (chiếm 43,03% tổng số loài), trong đó họ Rắn nước (Colubridae) chiếm ưu thế tuyệt đối với 16 loài (42,11% số loài của bộ).
- Bộ Không đuôi (Anura): 5 họ, 32 loài (chiếm 37,81%), trong đó họ Ếch nhái (Ranidae) chiếm 15 loài (46,86% số loài của bộ), họ Ếch cây (Rhacophoridae) có 6 loài, họ Cóc bùn (Megophryidae) có 5 loài.
- Bộ Rùa (Testudinata): 4 họ, 16 loài (chiếm 18,39%), trong đó họ Rùa đầm (Emydidae) chiếm 9 loài (56,25%), họ Ba ba (Trionychidae) có 4 loài.
- Bộ Không chân (Gymnophiona): 1 họ (Epicriidae), 1 loài (Ếch giun Ichthyophis sp., chiếm 1,16%).
- Bộ Có đuôi (Caudata): Chưa ghi nhận loài nào tại VQG Pù Mát.
- So sánh tương quan khu hệ với các khu bảo tồn lân cận:
| Chỉ số so sánh |
VQG Pù Mát |
VQG Phong Nha - Kẻ Bàng |
KBTTN Pù Huống |
VQG Bến En |
VQG Bạch Mã |
| Diện tích (ha) |
94.804 (lõi 91.113) |
94.031 |
- |
- |
- |
| Số bộ |
4 |
3 |
3 |
3 |
3 |
| Số họ |
21 |
21 |
21 |
22 |
19 |
| Số loài |
86 - 87 |
141 |
83 |
85 |
93 |
| Số loài Sách Đỏ thế giới (IUCN) |
22 |
18 |
14 |
14 |
14 |
| Số loài Sách Đỏ Việt Nam |
24 |
22 |
19 |
15 |
10 |
So với các khu hệ Bắc Trung Bộ, VQG Pù Mát có số họ và bộ tương đương nhưng vượt trội về số lượng loài quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn (22 loài IUCN và 24 loài SĐVN).
- Hiện trạng bảo tồn của 8 loài chỉ thị/nguy cấp tại xã Châu Khê:
- Rồng đất (Physignathus cocincinus): Thân dẹp, mào cổ và mào lưng rõ; bị săn làm thực phẩm, chỉ bắt gặp 1 cá thể tại Khe Nà.
- Rùa núi viền (Manouria impressa): Mai phẳng, mép răng cưa nhọn cong lên, yếm khuyết V sâu; suy giảm nghiêm trọng, không bắt gặp cá thể sống ngoài thực địa.
- Rắn ráo thường (Ptyas korros): Đuôi màu ô liu, bắt gặp 1 cá thể tại Khe Nóng.
- Kỳ đà vân (Varanus bengalensis): Lỗ mũi gần mắt hơn mõm; bị săn bắt gắt gao, ghi nhận qua mẫu vật người dân săn tại Khe Nóng.
- Rùa trung bộ (Mauremys annamensis): Mai dẹt màu xám sẫm, 3 gờ lưng, sọc vàng qua ổ mắt; loài bổ sung mới, ghi nhận qua phỏng vấn thợ săn tại trạm Cao Vều.
- Rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah): Bị săn bắt làm thuốc và thực phẩm, ghi nhận người dân bắt được tại Làng Diềm.
- Rắn cạp nong (Bungarus fasciatus): Khoanh đen vàng xen kẽ, sống lưng gờ rõ; ghi nhận mẫu người dân bắt tại Làng Diềm.
- Cóc rừng (Bufo galeatus): Mào xương lớn trên ổ mắt, hàng mụn gai bên sườn; bắt gặp 2 cá thể ngoài tự nhiên tại Khe Nóng và Khe Luồng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng:
- Xác lập danh lục cập nhật gồm 87 loài Bò sát - Ếch nhái thuộc 21 họ, 4 bộ hiện diện tại VQG Pù Mát.
- Bổ sung 1 loài mới vào danh lục khu hệ VQG Pù Mát: Rùa trung bộ (Mauremys annamensis).
- Thống kê chi tiết tình trạng bảo tồn:
- 24 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), chiếm 27,59% tổng số loài (gồm 5 loài Rất nguy cấp - CR: Rùa hộp ba vạch, Rùa trung bộ, Trăn mắt võng, Trăn gấm, Rắn hổ chúa; 14 loài Nguy cấp - EN; 5 loài Sẽ nguy cấp - VU).
- 22 loài có tên trong Danh lục Đỏ IUCN (2010), chiếm 25,29% (5 loài CR, 13 loài EN, 4 loài VU).
- 13 loài thuộc Danh mục quản lý của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, chiếm 14,94% (gồm 2 loài nhóm IB nghiêm cấm khai thác: Rùa hộp ba vạch, Rắn hổ chúa; 11 loài nhóm IIB hạn chế khai thác).
- Xác định hiệu suất bắt gặp cá thể/giờ trên 7 phân vùng sinh cảnh tại xã Châu Khê, phản ánh mức độ suy giảm mạnh của các quần thể gần khu dân cư và nương rẫy.
- Định lượng hóa áp lực đe dọa bằng phương pháp TRA, chỉ rõ Săn bắt động vật hoang dã (22 điểm, hạng I) và Khai thác gỗ (21 điểm, hạng II) là hai nguyên nhân hàng đầu gây suy thoái sinh thái.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Tổ chức khoanh vẽ và bảo vệ nghiêm ngặt các tiểu khu có tính đa dạng sinh học cao, nơi cư trú của các loài nguy cấp (khu vực rừng giàu Khe Nóng, Cao Vều, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt).
- Xử phạt nghiêm minh các đối tượng săn bắt, vận chuyển, buôn bán động vật hoang dã trái phép; quản lý chặt chẽ mạng lưới thợ săn và chó săn tại các bản vùng đệm.
- Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục môi trường, đưa các quy định bảo tồn bò sát, ếch nhái vào quy ước, hương ước thôn bản để giảm thiểu việc săn bắt tự phát làm thực phẩm.
- Hỗ trợ sinh kế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm hạn chế tình trạng người dân đốt rừng làm nương rẫy và vào rừng khai thác lâm sản trong các tháng nông nhàn.
Đóng góp khoa học:
- Bổ sung dữ liệu thực chứng mới nhất (tính đến năm 2011) cho danh lục động vật VQG Pù Mát sau các công trình của Chu Văn Đại (2006) và Nguyễn Văn Hào (2006).
- Kết hợp liên ngành giữa phương pháp phân loại học truyền thống, sinh thái học thực địa với phương pháp PRA nhằm ghi nhận có hệ thống kho tàng tri thức bản địa (11 công thức ẩm thực, 4 bài thuốc dân gian) về tài nguyên động vật rừng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Tác giả tự nhận định đây là lần đầu tiếp cận công tác nghiên cứu khoa học chuyên sâu, nguồn lực tài chính, thời gian thực địa ngoại nghiệp và kỹ năng nhận dạng còn hạn chế.
- Một số loài quý hiếm có tập tính ẩn kín hoặc sinh sống ở địa hình núi cao hiểm trở (Rùa núi viền, Rắn hổ chúa, Kỳ đà vân, Rùa trung bộ) không thể quan sát hoặc thu thập mẫu trực tiếp ngoài tự nhiên trên tuyến khảo sát mà phải dựa vào phỏng vấn thợ săn và kiểm tra mẫu vật bắt giữ.
- Các nhóm động vật nhỏ, khó nhận dạng (như các loài thuộc giống Liu điu, Rắn nước, Nhái bầu) chưa được khảo sát đầy đủ, khiến danh lục chưa đạt tới độ hoàn chỉnh tuyệt đối.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng các tuyến điều tra chuyên sâu lên các đai cao hiểm trở trên 1.000 m thuộc dải núi Pù Mát chính dọc biên giới Việt - Lào.
- Áp dụng thêm các kỹ thuật bẫy chuyên dụng (bẫy hố có hàng rào dẫn, bẫy lưới) để khảo sát triệt để nhóm ếch nhái và bò sát kích thước nhỏ sống ẩn chìm trong tầng thảm mục.
- Tiến hành các nghiên cứu dài hạn về sinh thái học quần thể, biến động số lượng và cấu trúc di truyền của các loài cực kỳ nguy cấp (Cuora trifasciata, Mauremys annamensis, Ophiophagus hannah).
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Giảng viên, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh học, Sinh thái học và Bảo tồn thiên nhiên khi tìm hiểu về khu hệ bò sát - ếch nhái vùng Bắc Trường Sơn.
- Ban quản lý VQG Pù Mát và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An trong công tác xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, quy hoạch phân khu bảo tồn nghiêm ngặt và lập hồ sơ giám sát loài nguy cấp.
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến phương pháp luận: Phần mô tả quy trình phân tích TRA (Margoluis & Salafsky), cách tính toán hiệu suất tìm kiếm ($X$) và bảng câu hỏi PRA khai thác tri thức bản địa là những biểu mẫu phương pháp đáng tham khảo cho các nghiên cứu lâm nghiệp xã hội và sinh thái học thực địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Khu hệ Bò sát và Ếch nhái tại Vườn quốc gia Pù Mát ghi nhận được bao nhiêu bộ, họ và loài?
Khu hệ ghi nhận tổng cộng 87 loài thuộc 21 họ và 4 bộ: bộ Có vảy (Squamata - 11 họ, 37-38 loài), bộ Không đuôi (Anura - 5 họ, 32 loài), bộ Rùa (Testudinata - 4 họ, 16 loài) và bộ Không chân (Gymnophiona - 1 họ, 1 loài). Bộ Có đuôi (Caudata) không có đại diện nào.
2. Đề tài đã ghi nhận bổ sung loài mới nào cho danh lục VQG Pù Mát và qua hình thức nào?
Đề tài ghi nhận bổ sung 1 loài mới cho danh lục VQG Pù Mát là loài Rùa trung bộ (Mauremys annamensis). Dữ liệu về loài này được ghi nhận thông qua phỏng vấn người dân bản địa (gọi là rùa Trường Sơn) và xác minh mẫu vật thu được tại khu vực trạm Kiểm lâm Cao Vều.
3. Phương pháp TRA xác định mối đe dọa nào lớn nhất đối với đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu?
Theo bảng phân cấp TRA, Săn bắt động vật hoang dã là mối đe dọa lớn nhất (hạng I) với tổng điểm 22 (phạm vi: 7, cường độ: 8, tính cấp thiết: 7); đứng thứ hai là Khai thác gỗ (hạng II) với 21 điểm; đứng thứ ba là Khai thác lâm sản ngoài gỗ (hạng III) với 17 điểm.
4. Hiệu suất tìm kiếm cá thể ($X$) được tính theo công thức nào và kết quả ở các loài tiêu biểu ra sao?
Hiệu suất được tính bằng công thức $X = m / H$ (cá thể/giờ), với $m$ là số cá thể tìm thấy và $H$ là tổng thời gian tìm kiếm. Kết quả khảo sát tại xã Châu Khê ghi nhận hiệu suất ở một số loài: Ếch xanh đạt 0,31 cá thể/giờ; Ếch cây mép trắng đạt 0,26; Rắn hổ chúa và Rắn cạp nong đạt 0,18; Thằn lằn bóng hoa đạt 0,16; Rắn ráo thường đạt 0,15; Cóc nhà đạt 0,08.
5. Có bao nhiêu loài thuộc danh mục quý hiếm, nguy cấp theo Sách Đỏ và Nghị định 32/2006/NĐ-CP?
Có 24 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (chiếm 27,59%), 22 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2010 (chiếm 25,29%) và 13 loài thuộc danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm của Nghị định 32/2006/NĐ-CP (chiếm 14,94%, gồm 2 loài nhóm IB và 11 loài nhóm IIB).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hữu Hào (2011) đã hoàn thành việc thống kê, cập nhật danh lục khu hệ Bò sát và Ếch nhái tại Vườn quốc gia Pù Mát gồm 87 loài thuộc 21 họ, 4 bộ, đồng thời bổ sung loài Rùa trung bộ (Mauremys annamensis) vào cơ sở dữ liệu của vườn. Đề tài gắn kết hiệu quả giữa điều tra thực địa xác định hiệu suất bắt gặp trên 7 tiểu vùng sinh thái tại xã Châu Khê với việc sưu tra tri thức bản địa trong ẩm thực và y học dân gian. Kết quả phân cấp mối đe dọa theo mô hình TRA đã lượng hóa rõ nét các áp lực nhân sinh, khẳng định săn bắt và khai thác gỗ là nguy cơ hàng đầu, cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học rừng đặc dụng.