Tổng quan nghiên cứu

Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) là loài thú linh trưởng đặc hữu quý hiếm của khu vực Đông Dương, hiện được xếp vào cấp Nguy cấp (EN) trong Danh lục Đỏ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN 2012) và nhóm IB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể trên toàn tuyến phân bố Nam Trường Sơn đặt ra yêu cầu cấp thiết về các đánh giá định lượng hiện trạng quần thể nhằm xây dựng phương án bảo tồn thích ứng.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin thuộc tỉnh Đắk Lắk, được thành lập theo Quyết định số 92/2002/QĐ-TTg với tổng diện tích tự nhiên 58.947,00 ha, sở hữu đỉnh núi cao nhất Nam Tây Nguyên ở độ cao 2.442 m. Nơi đây là điểm nóng về đa dạng sinh học với 74 loài thú và 220 loài chim, đóng vai trò sinh cảnh sống trọng yếu cho loài Vượn má vàng phía nam. Tuy nhiên, trước năm 2013, các dữ liệu về mật độ, cấu trúc đàn và phân bố không gian của loài tại đây vẫn chưa được điều tra toàn diện.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 6/2012 đến tháng 3/2013 (thu thập dữ liệu thực địa tập trung từ tháng 7 đến tháng 9/2012) tại 26 điểm nghe thính học mẫu, bao phủ diện tích 10.422,4 ha sinh cảnh thích hợp. Đề tài hướng tới 3 mục tiêu cụ thể: ước lượng mật độ và quy mô quần thể vượn; xác định đặc điểm phân bố theo các kiểu thảm thực vật; nhận diện các mối đe dọa trực tiếp từ hoạt động con người để đề xuất giải pháp quản lý bền vững cho 58.947 ha rừng đặc dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống phân loại học linh trưởng hiện đại của các tác giả Groves (2004), Roos (2011) và Văn Ngọc Thịnh (2010), công nhận giống Nomascus tại Việt Nam gồm 6 loài với bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52. Loài Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) có đặc tính sinh thái chuyên biệt: sống hoàn toàn trên tán cây cao, di chuyển bằng hình thức chuyền cành đu tay (brachiation), thức ăn chủ yếu là quả chín và lá non.

Về cấu trúc xã hội học, loài duy trì lối sống đơn phối ngẫu theo từng đàn gia đình nhỏ từ 2 đến 4 cá thể (kích thước đàn trung bình chuẩn hóa là 3,5 cá thể/đàn). Chúng có tập tính lãnh thổ nghiêm ngặt với diện tích vùng sống khoảng 30 ha và duy trì ranh giới bằng tiếng hót đồng ca (duet) vào buổi sáng sớm. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology) để phân tích mức độ phân mảnh sinh cảnh giữa rừng kín thường xanh và các vùng rừng thứ sinh nhân tác.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực địa được thu thập thông qua cỡ mẫu gồm 26 điểm nghe thính học cố định (Listening Posts), kiểm kê trên tổng diện tích nghe thấy 10.422,4 ha sinh cảnh ưu thích. Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng: các điểm nghe được bố trí trên các đỉnh dông núi cao thuộc các tiểu khu trọng điểm như 1351, 1359, 1381 (xã Bông Krang) và 1187, 1209, 1227 (xã Khuê Ngọc Điền, Yang Mao). Mỗi điểm nghe được theo dõi liên tục trong 3 ngày từ 5h00 đến 9h00 sáng với bán kính ghi nhận tối đa R = 1,5 km.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích âm học theo mô hình xác suất của TS. Vũ Tiến Thịnh và Rawson (2011) là nhằm khắc phục triệt để sai số ước lượng do hiện tượng vượn không hót liên tục mỗi ngày. Mô hình tính toán xác suất hót ngày ($p_1$) và hệ số hiệu chỉnh tổng thể ($P = 1 - (1-p_1)^k$), giúp nâng cao độ chính xác khi ngoại suy quy mô quần thể. Dữ liệu không gian được định vị qua máy định vị vệ tinh GPS Garmin hệ tọa độ VN2000, sau đó xử lý bằng phần mềm MapInfo 10.5 và công cụ MapCAD để vẽ đường phương vị, xác định vị trí đàn qua phương pháp giao hội âm học. Dữ liệu định tính được bổ trợ qua phỏng vấn bán cấu trúc cán bộ kiểm lâm và người dân địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã xác lập các chỉ số định lượng then chốt về quần thể Vượn má vàng phía nam tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin:

  • Mật độ và quy mô quần thể: Mật độ đàn trung bình trong khu vực điều tra đạt khoảng 0,38 đàn/km² (tương đương 1,33 cá thể/km²). Ngoại suy trên toàn bộ diện tích sinh cảnh phù hợp của vườn, quy mô quần thể ước tính đạt khoảng 140 đến 160 đàn, tương ứng từ 490 đến 560 cá thể, đưa Chư Yang Sin trở thành một trong những nơi có số lượng vượn lớn nhất Việt Nam.
  • Phân bố theo sinh cảnh: Có đến 85% số đàn ghi nhận tập trung tại kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (độ cao 900 - 1.800 m với diện tích 29.226,04 ha, chiếm 49,58% diện tích tự nhiên). Các sinh cảnh rừng thưa thông 3 lá (6.950,51 ha) và rừng tre nứa thứ sinh (9.921,36 ha) chỉ ghi nhận rải rác dưới 15%, trong khi trảng cỏ cây bụi (3.408,72 ha) hoàn toàn không có sự hiện diện của loài.
  • Cấu trúc tiếng hót: Hoạt động hót tập trung cao điểm từ 5h30 đến 7h15 sáng với tỷ lệ hót đôi giữa con đực và con cái chiếm 78,5% tổng số lượt ghi nhận, chứng minh tính ổn định cao trong cấu trúc gia đình sinh sản.

Thảo luận kết quả

Khi so sánh với các khu bảo tồn lân cận, số lượng vượn tại Chư Yang Sin vượt trội hơn quần thể tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập (124 đàn với gần 400 cá thể) và tương đương với Vườn quốc gia Cát Tiên (khoảng 149 đàn). Điều này khẳng định Chư Yang Sin giữ vai trò là "ngân hàng nguồn gen" cốt lõi của loài Nomascus gabriellae tại khu vực Đông Dương.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ phân bố tần suất ghi nhận tiếng hót theo sinh cảnh, làm nổi bật sự gắn kết tuyệt đối của loài với các lâm phần rừng nguyên sinh giàu trữ lượng có độ tàn che từ 0,7 đến 0,8. Bản đồ phân vùng mật độ GIS cho thấy các đàn tập trung dày đặc dọc theo sườn đông bắc và lưu vực thượng nguồn suối Krông Kmar, suối Đắk Pair.

Nguyên nhân chính giúp duy trì mật độ cao là do địa hình núi cao hiểm trở, chia cắt mạnh giúp che chắn sinh cảnh khỏi các hoạt động con người. Tuy nhiên, áp lực xâm lấn từ 4.567,38 ha rừng thứ sinh sau nương rẫy cùng tình trạng sử dụng súng săn tự chế và bẫy dây từ 7 cộng đồng dân tộc vùng đệm (với lực lượng lao động hơn 36.000 người) đang tạo ra các nguy cơ phân mảnh sinh cảnh nghiêm trọng tại các tiểu khu vành đai.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững quần thể Vượn má vàng phía nam tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin, 5 nhóm giải pháp trọng tâm được đề xuất:

  1. Thiết lập hệ thống tuần tra chuyên sâu: Ban Quản lý Vườn quốc gia Chư Yang Sin cần thành lập 6 tổ tuần tra rừng chuyên trách, tập trung kiểm soát các tiểu khu trọng điểm 1351, 1359, 1376, 1209; đặt mục tiêu tháo gỡ 100% bẫy dây và triệt phá các lán trại trái phép, giảm 80% áp lực tác động tiêu cực trong giai đoạn 2024 - 2026.
  2. Vận động thu hồi súng săn và vũ khí tự chế: Phối hợp cùng Công an huyện Krông Bông, huyện Lắk và chính quyền 11 xã vùng đệm tổ chức các đợt cao điểm giao nộp súng kíp, súng săn tự chế, phấn đấu đạt tỷ lệ thu hồi 100% vũ khí trái phép tại các thôn buôn giáp ranh trong vòng 12 tháng.
  3. Phục hồi sinh cảnh và khoanh nuôi tái sinh: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk cùng Vườn quốc gia triển khai đề án xúc tiến tái sinh tự nhiên 4.567,38 ha rừng thứ sinh nhân tác và làm giàu rừng tại 3.408,72 ha trảng cỏ cây bụi, nâng độ tàn che lên trên 0,7 giai đoạn 2025 - 2030 để mở rộng hành lang di chuyển cho vượn.
  4. Mở rộng chính sách giao khoán bảo vệ rừng gắn với sinh kế: Nâng diện tích rừng giao khoán từ 16.000 ha lên 30.000 ha cho các hộ đồng bào Ê Đê, M'Nông, H'Mông; ứng dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) nhằm nâng mức thu nhập từ rừng thêm 15 - 20% mỗi năm, hạn chế triệt để tập quán phát rừng làm nương rẫy.
  5. Triển khai giám sát sinh học thông minh: Định kỳ 6 tháng/lần, áp dụng công nghệ máy thu âm tự động (Bioacoustic Recorders) kết hợp bẫy ảnh tại 26 điểm điều tra cố định để theo dõi biến động quần thể liên tục từ năm 2024 đến năm 2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Ban quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Ứng dụng quy trình điều tra âm học chuẩn hóa và công thức tính xác suất hót để thiết lập mạng lưới giám sát định lượng linh trưởng nguy cấp trên các địa hình đồi núi phức tạp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Quản lý tài nguyên rừng và Lâm học: Sử dụng cơ sở dữ liệu về 948 loài thực vật, 74 loài thú cùng bộ công cụ tích hợp GIS - MapCAD làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu sinh thái học thực địa.
  • Chi cục Kiểm lâm và Cơ quan hoạch định chính sách lâm nghiệp: Khai thác các dữ liệu về phân vùng xung đột bảo tồn và đề xuất cơ chế giao khoán rừng gắn với sinh kế 36.000 lao động vùng đệm để ban hành chính sách quản lý rừng đặc dụng cấp tỉnh.
  • Các tổ chức bảo tồn phi chính phủ (IUCN, WWF, FFI, GreenViet): Tiếp cận các số liệu định lượng chuẩn xác về quy mô quần thể để xây dựng hồ sơ tài trợ và chương trình ưu tiên bảo tồn loài linh trưởng đặc hữu Đông Dương.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao phương pháp điều tra âm học tại điểm nghe lại tối ưu cho loài Vượn má vàng phía nam?
Vượn má vàng sống chủ yếu trên tầng tán cao từ 20 đến 30 m, di chuyển nhanh và cảnh giác cao với con người nên phương pháp quan sát trực tiếp chỉ đạt hiệu quả dưới 10%. Ngược lại, chúng có tập tính hót định kỳ với âm lượng lớn vang xa tới 1,5 km, cho phép 26 điểm nghe bao quát toàn bộ 10.422,4 ha sinh cảnh.

Hệ số hiệu chỉnh xác suất hót của TS. Vũ Tiến Thịnh đóng vai trò gì trong việc xử lý số liệu?
Trong thực tế, các đàn vượn không hót đồng loạt mỗi ngày. Mô hình toán học của TS. Vũ Tiến Thịnh và Rawson (2011) xác định xác suất hót ngày ($p_1$) qua 3 ngày theo dõi liên tục, giúp loại trừ sai số ước lượng thiếu từ 20% đến 35% so với các phương pháp kiểm đếm thô trước đây.

Kiểu rừng nào tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin là sinh cảnh sống quan trọng nhất của loài vượn?
Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (chiếm 49,58% diện tích vườn, tương đương 29.226,04 ha ở đai cao 900 - 1.800 m) là sinh cảnh cốt lõi. Nơi đây duy trì cấu trúc rừng 4 đến 5 tầng liên tục, độ tàn che 0,7 - 0,8 và cung cấp nguồn thức ăn dồi dào từ các họ Dẻ, Long não, Dầu.

Quy mô quần thể Vượn má vàng tại Chư Yang Sin có vị thế như thế nào trong khu vực?
Với mật độ 0,38 đàn/km² và số lượng ước tính từ 140 đến 160 đàn (490 - 560 cá thể), Vườn quốc gia Chư Yang Sin cùng với Vườn quốc gia Bù Gia Mập (124 đàn) và Vườn quốc gia Cát Tiên (149 đàn) tạo thành 3 quần thể Vượn má vàng phía nam lớn nhất toàn cầu.

Áp lực lớn nhất đối với sự tồn vong của loài vượn tại khu vực nghiên cứu là gì?
Mối đe dọa lớn nhất là áp lực săn bắn bằng súng săn tự chế và bẫy bắt động vật, đi kèm tình trạng chia cắt sinh cảnh do canh tác nương rẫy (với hơn 4.567 ha rừng thứ sinh) phát sinh từ nhu cầu sinh kế của 7 cộng đồng dân cư sinh sống quanh vùng đệm.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập quy mô quần thể Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin với khoảng 140 đến 160 đàn (tương đương 490 đến 560 cá thể), khẳng định vị thế là một trong những trung tâm bảo tồn linh trưởng quan trọng nhất Việt Nam.
  • Chứng minh kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (29.226,04 ha) là sinh cảnh ưu tiên bảo vệ số một, nắm giữ hơn 85% mật độ phân bố của toàn quần thể.
  • Chuẩn hóa quy trình điều tra âm học có hiệu chỉnh xác suất tiếng hót kết hợp công nghệ định vị không gian GIS MapInfo 10.5 phục vụ công tác kiểm kê linh trưởng.
  • Xác định rõ 2 nguy cơ xâm hại trực tiếp là bẫy bắt động vật hoang dã và sự suy thoái sinh cảnh do áp lực nương rẫy từ vùng đệm.
  • Đề xuất đồng bộ hệ sinh thái 5 giải pháp từ tuần tra thực địa, thu hồi vũ khí đến mở rộng giao khoán 30.000 ha rừng cho cộng đồng.

Nghiên cứu là đóng góp khoa học quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu sinh học cho Vườn quốc gia Chư Yang Sin. Trong lộ trình 2024 - 2028, các nhà quản lý rừng và nhà khoa học cần tiếp tục duy trì mạng lưới giám sát âm học định kỳ, đẩy mạnh nghiên cứu di truyền quần thể và hợp tác quốc tế để bảo vệ an toàn loài linh trưởng quý hiếm này.