CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Từ xưa con người đã biết lợi ích và tác hại của nấm. Cách đây hơn 3000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng nấm làm thức ăn. Vào thế kỉ IV trước Công nguyên, hai nhà bác học người Hy Lạp là Theosphraste và Aristote đã đề cập đến nấm Cục (Tuberaceae) và nấm Tán (Agaricaeae).
Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài từ thế kỷ IV trước Công nguyên đến thế kỷ XVIII sau công nguyên, con người vẫn hiểu biết chưa nhiều về nấm. Khoa học nghiên cứu nấm được hình thành từ thế kỷ XVIII. Năm 1729, Michell lần đầu tiên quan sát nấm bằng kính hiển vi và đăng bài trên tạp chí “Các chi thực vật”. Năm 1772 trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” Lineaus đưa ra 10 chi nấm mọc trên đất.
Nhiều khoa học nổi tiếng thời kỳ sau này là Peron, Fries, Sweinitz, Corda, Berkley. Khoa học bệnh cây bắt đầu gắn liền với nấm học từ năm 1851. Người sáng lập là A. Sau này, với sự phát triển đột phá của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài nấm mới và nêu tên chúng trong danh lục các loài nấm.
Những căn cứ để phân loại nấm: dựa vào đặc điểm hình thái, phương thức dị dưỡng của nấm, quá trình sinh trưởng, phát triển của nấm. Năm 1881, nhà khoa học Phần Lan Karsten đã đề cập đến việc phân loại nấm dựa vào hình thái thể quả và mỗi quan hệ thân thuộc của chúng, đã được đông đảo các nhà nấm học trên thế giới công nhận như: Cuningham G. Đến năm1893, nhà nấm học Phần Lan Donk đã hoàn thiện cho hệ thống phân loại của Karsten. Quan điểm phân loại này được rất nhiều khoa học trên thế giới chấp nhận như: Mayer E.
Năm 1971, Aisworth đã đưa ra hệ thống phân loại nấm một cách hoàn chỉnh. Trong hệ thống phân loại này ông đã dựa vào đặc điểm hình thái của thể quả, đặc điểm giải phẫu và phương thức dinh dưỡng đã chia giới nấm (Mycota) thành hai 3 ngành: Ngành nấm Nhầy (Myxomycota) và ngành nấm Thật (Eumycota). Từ hai ngành trên, tác giả lại chia thành các lớp, lớp phụ, bộ, họ, chi và loài. Như vậy, trong một taxon đơn vị phân loại nhỏ nhất là loài.
Tại Tokyo (Nhật Bản), Hiệp hội nấm quốc tế đã được thành lập năm 1971, đã nêu ra hệ thống phân loại chia giới sinh vật ra thành 6 giới. Nấm được chia vào giới riêng (dinh dưỡng hút) khác với giới thực vật (quang hợp) và động vật (dinh dưỡng nuốt). Trong giới sinh vật đa bào, loài sinh vật nhân thật có rất nhiều quan điểm và hệ thống phân loại, sắp xếp khác nhau. Cho đến nay, hệ thống phân loại nấm của Ainsworth đã và đang được các nhà nấm học trên thế giới sử dụng.
Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M. Aime (2006) trong cuốn "Kingdom Fungi" mà Kirk P. biên soạn trong cuốn "Từ điển Nấm" (Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008. Chủ yếu là nâng ngành phụ nấm Đảm (Basidiomycotina) thành ngành chính (Basidio-mycota).
Theo Mao Xiaogang (2000), Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần 2000 loài, phần lớn chúng thuộc các loài nấm Lỗ. Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã nghiên cứu về nấm Lỗ ở một số vùng khác nhau như Radariv et al đã nghiên cứu phát hiện 256 loài nấm Lỗ ở Tây Ghats bang Maharashtra. Trong danh lục nấm Lỗ Israel, Daniel Tura và cộng sự (2010) đã ghi chép được 242 loài thuộc 11 chi. Trong rừng mưa nhiệt đới Brazil năm 2002, Tatiana B.
Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc trong rừng trên các dạng khác nhau như trên gỗ, trên cây sống, trên đất.Tại Litva một số tác giả đã nghiên cứu thành phần loài nấm lớn và nấm Nhầy, năm 2013 công bố 326 loài nấm lớn tại vườn Asveja Regional (Lithuania). Năm 2013 Roy Halling, vườn Thực vật New York Mỹ đã phát hiện nhiều loài nấm nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea và Thái lan. Nhà nấm học Nhật Bản, tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia và Thái lan; Nakason K.K đã 4 công bố một số loài thuộc chi Epithele (bộ nấm Lỗ, Polyporales) ở Thái Lan và một số nước khác như Côngô, Nam Phi và Đài Loan. Đặc biệt, những năm gần đây các nhà nấm học tập trung phân loại nấm Linh chi (Ganoderma sp.) ở các nước nhiệt đới.
Ở Việt Nam Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao trên thế giới với khoảng 12000 loài thực vật bậc cao và 3000 loài động vật có xương sống đã được mô tả, trong đó có những loài đặc hữu. Cấu trúc địa chất độc đáo, địa lý thủy văn đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, những kiểu sinh thái khác nhau… đã góp phần tạo nên sự đa dạng của khu hệ nấm Việt Nam. Đã từ lâu nhân dân ta đã biết dùng nấm làm thực phẩm và dược phẩm. Ở Việt Nam, Lê Quý Đôn (1726 - 1784) trong tác phẩm "Vân đài loại ngữ" và "Kiến văn tiều lục" đã đánh giá “Linh chi là một sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam”.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về nấm mới bắt đầu được tiến hành từ thời kỳ Pháp thuộc. Tiêu biểu là các công trình của Patouillard N. (1890 - 1928) về nấm lớn ở Việt Nam và Đông Dương. Từ năm 1953, một số tác giả Việt Nam nghiên cứu về nấm lớn như: Phạm Hoàng Hộ (1953), Nguyễn Văn Diễn (1965), Hoàng Thị Mỹ (1966), Kreisel (1966), Joly P.
Phan Huy Dục (1996) công bố nhiều loài nấm lớn trong bộ nấm Tán (Agaricales) vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Đàm Nhận (1996) nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học nấm Linh Chi. Đặc biệt Trịnh Tam Kiệt từ 1965 đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về nấm ở Việt Nam, một số kết quả đã được công bố trong "Nấm lớn ở Việt Nam" tập I, (1981), "Danh mục nấm lớn của Việt Nam" (1996). Hiện nay các kết quả nghiên cứu về nấm lớn ở Việt Nam từ trước đến nay đã được Trịnh Tam Kiệt và các tác giả khác công bố trong "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" Tập I gồm 1250 loài nấm lớn đã được ghi nhận ở Việt Nam.
Cũng cần phải nói thêm rằng, việc nuôi trồng nấm ăn ở Việt Nam đã thúc đẩy việc nhập nhiều chủng giống nấm ăn ở nước ngoài để tiến hành nghiên cứu, 5 thuần hóa và nuôi trồng ở Việt Nam đã dẫn tới sự có mặt của tập đoàn giống với khoảng 50 chủng nấm ăn và nấm cho dược liệu. Một số chủng nấm đã phát triển và hình thành quả thể trong điều kiện tự nhiên của Việt Nam, góp phần phong phú cho khu hệ nấm. 6 CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰCNGHIÊN CỨU 2. Điều kiện tự nhiên khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 2.
Vị trí địa lý KBT thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc địa giới hành chính thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh bao gồm 5 xã: Đồng Sơn, Đồng Lâm, Kỳ Thượng, Vũ Oai, Hoà Bình. Tọa độ địa lý: Từ 107000’30’’ đến 107014’00’’ vĩ độ Bắc. Từ 210 04’00’’ đến 21011’00’’ kinh độ Đông. - Phía Đông giáp xã Dương Huy, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. - Phía Tây giáp xã Sơn Dương thành phố Hạ Long. - Phía Nam giáp xã Thống Nhất thành phố Hạ Long. Vị trí Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn-Kỳ thượng, tỉnh Quảng Ninh 7 2.
Khí hậu thuỷ văn Khí hậu KBTTN ĐSKT nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ảnh hưởng của khí hậu đại dương có các đặc trưng sau: - Mùa trong năm: Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đông lạnh và khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa hè nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 9. - Chế độ nhiệt: Nhiệt độ bình quân năm là 230C, nhiệt độ trung bình mùa nóng là 250C. Nhiệt độ trung bình mùa lạnh là 200C, biên độ nhiệt ngày và đêm 5 -80C, tổng tích ôn trung bình năm là 8. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 410C (tháng 6), nhiệt độ tối thấp tuyệt đối đã có lần xuống tới 00C (tháng 1).
Trong năm, những ngày có nhiệt độ xuống dưới 100C ở trong các thung lũng thuộc KBTTN ĐSKT thường kéo dài theo các đợt gió mùa Đông Bắc trong mùa rét. - Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân năm là 2.400mm, mưa tập trung vào các tháng 7, 8 chiếm khoảng 80% lượng mưa trong năm. Đặc biệt trong tháng 7-8 thường xảy ra lũ ở các suối trong khu vực. Trong mùa khô, lượng mưa chỉ chiếm 15-20% lượng mưa trong năm nên mùa khô thường gây ra hiện tượng khô hạn kéo dài từ 2 đến 3 tháng.
- Chế độ ẩm: Độ ẩm bình quân năm là 80%, cao nhất vào các tháng 3-4 lên tới 89% và thấp nhất là 65% vào các tháng 1 - 2. Lượng bốc hơi bình quân năm là 1. Trong những tháng khô hạn có lúc độ ẩm xuống 40 - 50% gây ra nóng bức và khô, ảnh hưởng không tốt đến cây cối. - Chế độ gió: Khu vực KBTTNĐSKT có 2 loại gió thịnh hành là gió Đông Bắc vào mùa khô hanh và gió Đông Nam vào mùa mưa.
Gió Đông Bắc lạnh thường xảy ra vào các ngày khô hanh độ ẩm thấp thường gây thiệt hại cho cây cối. + Bão: Mặc dù khu vực KBTTNĐSKT gần biển nhưng do vịnh Hạ Long có nhiều đảo che chắn nên ít bị ảnh hưởng của bão lớn. Tuy vậy, hàng năm vẫn chịu ảnh hưởng trung bình từ 2 đến 3 cơn bão đổ bộ vào với tốc độ gió cấp 8, cấp 9 gây mưa lớn kéo dài, nhiều vùng bị lũ lụt ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông lâm nghiệp. 8 + Sương muối: Do đặc điểm địa hình nên trong các thung lũng thường xuất hiện sương muối.
Sương muối thường xảy ra vào các tháng 12, tháng 1 ảnh hưởng đến cây trồng đặc biệt là cây trồng nông nghiệp và cây trồng lâm nghiệp trong giai đoạn đang được chăm sóc ở vườn ươm. - Các nhân tố cực đoan: Mùa mưa hay có mưa lớn và kéo dài gây lũ cục bộ. Gần đây xuất hiện mưa axit. Mùa đông thường xuất hiện sương muối.
Đây là yếu tố gây trở ngại không nhỏ đến đời sống, giao thông và sản xuất nông lâm nghiệp. Nhìn chung khí hậu KBTTN ĐSKT thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa (ở dưới thấp) và khí hậu á nhiệt đới núi thấp (ở trên đỉnh cao), chế độ nhiệt, mưa, ẩm, gió, bốc hơi, phân mùa của khu vực là thuận lợi cho cây rừng sinh trưởng và phát triển.