ĐẶT VẤN ĐỀ Thành phần chim Việt Nam đa dạng và phong phú với 887 loài thuộc 88 họ và 20 bộ (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011) và tăng lên thành 918 loài, 101 họ và 24 bộ (Lê Mạnh Hùng, 2020). Chim Việt Nam chiếm hơn 9% tổng số loài chim trên thế giới (9800 loài) và chiếm 34% tổng số loài chim ghi nhận tại vùng Phương Đông (2. Trong số các loài chim đã biết đến ở Việt Nam có 11 loài đặc hữu, khoảng 40 loài quý hiếm đang bị đe dọa trên phạm vi toàn cầu và 76 loài đang bị đe doạ tuyệt chủng ở mức quốc gia (Bộ khoa học và công nghệ, 2007). Cũng giống như các nhóm loài động vật khác, các loài chim ở nước ta hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nguy cơ mất môi trường sống do sự gia tăng dân số thúc đẩy việc chiếm đất nông nghiệp, chặt phá rừng và mở rộng diện tích xây dựng.
Bên cạnh đó, nhu cầu và thói quen sở thích ăn thịt rừng của nhiều người dẫn đến việc săn bắn quá mức đe dọa tuyệt chủng cho nhiều loài chim quý hiếm. Vì vậy, việc điều tra tính đa dạng chim tại các vùng miền để xây dựng cơ sở dữ liệu bảo tồn các loài chim là rất cần thiết. Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Mường Nhé nằm trên địa phận huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, cách Thành phố Hà Nội khoảng 700km theo hướng Tây Bắc. Hiện nay, KBTTN Mường Nhé có tổng diện tích khoảng 45.581ha, nằm trong địa phận 5 xã biên giới: Sín Thầu, Leng Su Sìn, Chung Chải, Mường Nhé và xã Nậm Kè (Cục Lâm Nghiệp, 2007) được chia thành 3 phân khu chức năng: Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt, có tổng diện tích 25.679,08 ha; Phân khu phục hồi sinh thái: Có tổng diện tích là 19.888,42 ha và Phân khu Hành chính – Dịch vụ được quy hoạch với diện tích 13,5 ha.
Khu BTTN Mường Nhé nằm trong vùng địa lý Tây Bắc, thuộc trung tâm đa dạng sinh học Hoàng Liên Sơn, là khu vực được quy hoạch trở thành khu dự trữ thiên nhiên có diện tích lớn nhất vùng Tây Bắc. Theo Báo cáo hiện trạng và 1 công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Mường Nhé giai đoạn 2014 – 2017 cho thấy, KBTTN Mường Nhé là nơi chứa đứng giá trị sinh học cao: 742 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 502 chi, 158 họ; 60 loài thú; 255 loài chim; 77 loài bò sát và 40 loài lưỡng cư; 198 loài bướm. Một số loài động vật có ý nghĩa bảo tồn toàn cầu như: Voi (Elephas maximus), Bò tót (Bos gaurus), Gấu ngựa (Ursus thibetalus), Gấu chó (Ursus malayanus). và các loài thực vật núi cao có giá trị kinh tế như: Pơ mu (Fokienia hodginsii),.
Mặc dù Ban quản lý khu BTTN Mường Nhé đã hoạt động tích cực, đạt được nhiều thành tích trong công tác bảo tồn nhưng vẫn còn nhiều sức ép từ cộng đồng địa phương đến rừng và diện tích rừng quản lý. Diện tích đất rừng đang bị lấn chiếm để làm ruộng, nương do sức ép gia tăng dân số. Tình trạng khai thác gỗ làm nhà cửa, khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thực phẩm, dược liệu, gia dụng, thương mại. Tình trạng săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã vẫn xảy ra, nguy cơ làm suy giảm kích thước quần thể các loài, các loài chim cũng không nằm ngoài tình trạng này, đặc biệt là các loài quý hiếm và có giá trị.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng thành phần các loài chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên”. Đề tài được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tính đa dạng tài nguyên chim và đề xuất các giải pháp cho công tác bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên tại Khu BTTN Mường Nhé. Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung đi tìm câu trả lời cho 2 câu hỏi: (1). Mức độ đa dạng các loài chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé như thế nào? (2).
Làm thế nào để giảm thiểu các tác động tiêu cực của người dân dân địa phương đến các loài chim và sinh cảnh sống của chúng tại khu vực nghiên cứu? 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thành phần chim ở việt Nam Hệ thống phân loại chim ở Việt Nam thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1: Phân loại chim ở Việt Nam theo thời gian Các loài chim Năm Bộ Họ Loài Nguồn thông tin 1975 - 1981 773 Võ Quý (1975, 1981) 1995 19 81 828 Võ Quý và Nguyễn Cử (1995) 1999 19 81 828 Võ Quý và Nguyễn Cử (1999) Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải, 2000 19 81 867 Karenphillipps (2000) Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn 2011 20 88 887 Thanh Vân (2011) 2018 24 101 916 Richard Craik and Le Quy Minh (2018) 2020 24 101 918 Lê Mạnh Hùng và cs (2020) Võ Quý (1975; 1981) đã xây dựng tài liệu về hình thái và phân loại chim Việt Nam. Tác giả đã xây dựng khóa định loại chim cho 773 loài theo phương pháp “phân chia đối lập’’. Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về mặt hình thái phân loại và phân bố tự nhiên của loài chim trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Tuy nhiên, các thông tin mô tả về loài và hình ảnh của các loài còn rất hạn chế. Năm 1995, Võ Quý và Nguyễn Cử đã tổng hợp các kết nghiên cứu tại nhiều vùng trong cả nước và đưa ra Danh lục các loài chim ở Việt Nam gồm 828 loài, 81 họ và 19 bộ trong cuốn “Danh lục chim Việt Nam”. Tên tiếng Anh, tên khoa học và thứ tự sắp xếp các loài trong bảng danh lục được sử dụng theo Richard Howard và Alick Moore “A complete Checklist of the Birds of the World”. 3 Năm 1999, Võ quý và Nguyễn Cử tiếp tục tái bản một lần nữa cuốn “Danh lục chim Việt Nam”.
Tuy nhiên, số lượng của các loài vẫn không có sự thay đổi so với các nghiến cứu trước đó. Năm 2000, Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải, Karen Phillipps đã xây dựng cuốn “Chim Việt Nam” trên cơ sở cuốn sách Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc của các tác giả Clive Viney, Lam Chiu Ying và Karen Phillipps (1994). Trong tài liệu có bổ sung và thay đổi dựa trên các tài liệu mô tả trước đó. Tình trạng của các loài và các loài mới được phát hiện ở Việt Nam cũng được cập nhật.
Trong phần phụ lục của cuốn sách Danh lục Chim Việt Nam có sự kế thừa của các tác giả Võ Quý và Nguyễn Cử (1995, 1999) về thành phần loài và tên phổ thông của các loài. Cuốn sách đã sử dụng các bản đồ trong báo cáo mở rộng hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam cho thế kỷ 21. Ngoài ra, các tác giả có mô tả về đặc điểm loài (có cả hình ảnh minh họa), tình trạng, phân bố, nơi ở của 500 loài trên tổng số 850 loài thuộc 81 họ và 19 bộ trong cuốn sách hướng dẫn về các loài chim Việt Nam. Vì vậy, các thông tin về các loài chưa được mô tả cần tiếp tục bổ sung trong các nghiên cứu tiếp theo.
Năm 2011, Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân đã xây dựng tài liệu “Danh lục chim Việt Nam”. Bản danh lục là sự kế thừa các nghiên cứu trước đây của Võ Quý và Nguyễn Cử và sắp xếp danh lục chim theo hệ thống phân loại được đề xuất bởi Sibley – Ahlquist – Monroe (SAM) và được sử dụng trong danh lục chim thế giới (Complete Checklist of the Birds of the World), tái bản lần thứ 3 có chỉnh lý và bổ sung (Dickinson ed, 2003). Bên cạnh đó, các tác giả có bổ sung một số dẫn liệu mới và phân loại chim được công bố gần đây và tham khảo thêm cuốn Danh lục chim thế giới (The Clements Checkist of the Birds of the World), tái bản lần thứ 6 năm 2007 của James F. Một số thay đổi về phân loại của tài liệu này so sánh với các tài liệu trước đó như sau: Họ Cun cút (Turnicidae) trước đây được đặt trong bộ Sếu (Gruiformes) hay bộ Gà (Galliformes).
Nghiên cứu phân loại học của Sibley - Ahlquist đã tách nhóm này ra và xếp vào một bộ mới là bộ Cun cút (Turniciformes). Tuy nhiên, những nghiên cứu toàn diện về nhóm này gần đây đã xếp chúng vào bộ Rẽ (Charadriifofmes). 4 Bộ Sả (Coraciiformes) vốn bao gồm các họ Bói cá, họ Trảu, họ Sả rừng, họ Đầu rìu và họ Hồng hoàng. Theo nghiên cứu phân loại chim của Sibley- Ahlquist, các loài trong họ Hồng hoàng được tách riêng ra thành một bộ (bộ Hồng hoàng – Bucerotiformes), theo đó hai phân họ của nhóm này (Bucorvinae và Bucerotinae) được nâng lên thành bậc họ.
Theo Hackett, 2008, bộ mới Bucerotiformes bao gồm 4 họ: Upupidae, Phoeniculidae, Bucerotidae, Bucorvidae. Tuy nhiên, quan điểm phân loại học về việc tách bộ mới này còn nhiều điểm chưa hoàn toàn thống nhất và còn tranh cãi. Vì vậy, trong danh lục này, các tác giả vẫn tạm giữ nguyên các họ trên trong bộ Sả (Coraciiformes). Một số loài chim cũng được sắp xếp lại vào những họ mới.
Họ Chim xanh (Irenidae) trước đây được chia thành 3 họ gồm: họ Chim nghệ - Aegithinidae, họ Chim lam – Irenidae và họ Chim xanh – Chloropseidae. Một số loài như Đớp ruồi xanh gáy đen, Thiên đường đuôi phướn trước đặt trong cùng họ với các loài Rẻ quạt nay được tách thành hai họ: Rẻ quạt (Rhipiduridae) và Thiên đường (Monarchidae). Các loài chim chiền chiện, chích bông trước đây được xếp trong họ Chim chích (Sylviidae) nay được xếp vào một họ riêng là họ Chiền chiện (Cisticolidae). Các loài chim thuộc giống Phylloscopus và Seicercus trước đây được đặt trong họ Chim chích (Sylviidae) nay được tách ra xếp vào một họ riêng là họ Chích phylo (Phylloscopidae).
Một số loài Chim hoét, Sáo đất… trước đây được đặt trong họ Chích chòe, nay được tách ra đặt trong họ Hoét (Turnidae). Nhưng ngược lại, các loài oanh, chích chòe, đớp ruồi lại được gộp trong họ Đớp ruồi (Muscicapidae). Các loài cu rốc, thầy chùa trước được đặt chung trong họ Gõ kiến (Picidae) nay được tách ra họ riêng là họ Cu rốc (Ramphastidae). Một số giống trong họ Chim chích (Sylviidae) trước đây cũng được tách ra thành họ mới Cetiidae, có tên tiếng Anh là Cetiid warblers (họ 5 Chích đớp ruồi).
Họ này bao gồm các loài chim hót, ăn sâu bọ, kích thước nhỏ và cho tới nay bao gồm 9 giống là: Abroscopus, Pholidornis, Hylia, Erythrocercus, Urosphena, Tesia, Cetia, Tickellia, Phyllergates.