Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khu hệ chim Việt Nam có mức độ phong phú cao với 887 loài thuộc 88 họ và 20 bộ theo phân loại của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011), sau đó được cập nhật lên 918 loài, 101 họ và 24 bộ theo Lê Mạnh Hùng và cộng sự (2020). Thành phần loài chim tại Việt Nam chiếm hơn 9% tổng số loài chim trên thế giới và khoảng 34% tổng số loài ghi nhận tại vùng Phương Đông, trong đó có 11 loài đặc hữu, khoảng 40 loài bị đe dọa toàn cầu và 76 loài bị đe dọa tuyệt chủng cấp quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007). Tuy nhiên, các quần thể chim hoang dã đang chịu sức ép nghiêm trọng từ việc mất môi trường sống do gia tăng dân số, khai phá đất nông nghiệp, chặt phá rừng và thói quen săn bắt phục vụ nhu cầu thực phẩm hay buôn bán.
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Mường Nhé nằm trên địa bàn huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, cách Hà Nội khoảng 700 km về phía Tây Bắc, thuộc trung tâm đa dạng sinh học Hoàng Liên Sơn. Khu bảo tồn có tổng diện tích quy hoạch 45.581 ha, chia làm 3 phân khu: Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt (25.679,08 ha), Phân khu Phục hồi sinh thái (19.888,42 ha) và Phân khu Hành chính – Dịch vụ (13,5 ha). Dù có giá trị đa dạng sinh học cao, khu vực này chịu nhiều áp lực từ cộng đồng dân cư thuộc 5 xã vùng đệm do tình trạng lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ, thu hái lâm sản ngoài gỗ và bẫy bắt động vật. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Nghiên cứu tính đa dạng thành phần các loài chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên" được thực hiện nhằm đánh giá tài nguyên chim và xây dựng cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn.
Đề tài giải quyết 2 câu hỏi nghiên cứu:
- Mức độ đa dạng các loài chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé như thế nào?
- Làm thế nào để giảm thiểu các tác động tiêu cực của người dân địa phương đến các loài chim và sinh cảnh sống của chúng tại khu vực nghiên cứu?
Nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể được xác định gồm:
- Mục tiêu chung: Bổ sung thông tin về thành phần loài chim phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Mường Nhé.
- Mục tiêu cụ thể:
- Lập được danh sách các loài chim tại Khu BTTN Mường Nhé.
- Xác định được mức độ đa dạng tài nguyên chim tại khu vực nghiên cứu.
- Xác định được các tác động tiêu cực của người dân địa phương đến các loài chim trong khu vực.
- Đưa ra được các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài chim phù hợp với điều kiện thực tiễn tại khu vực nghiên cứu và có tính khả thi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài động vật thuộc lớp Chim (Aves) phân bố tại Khu BTTN Mường Nhé.
- Phạm vi không gian: Thực hiện trên địa bàn quản lý của 5 Trạm Kiểm lâm thuộc 5 xã biên giới: Sín Thầu, Leng Su Sìn, Chung Chải, Nậm San (xã Mường Nhé) và Nậm Kè, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành trong thời gian 5 tháng, từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 05 năm 2021 (thực hiện qua 2 đợt điều tra thực địa vào tháng 01/2021 và tháng 03/2021).
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng khung phân loại học theo hệ thống Sibley – Ahlquist – Monroe (SAM), kế thừa danh mục và cách sắp xếp của tài liệu Danh lục chim Việt Nam (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011), có đối chiếu với các tài liệu phân loại quốc tế và trong nước như Dickinson (2003), Craig Robson (2005, 2008, 2011), Richard Craik & Lê Quý Minh (2018), Lê Mạnh Hùng và cs. (2020).
Để đánh giá mức độ nguy cấp và giá trị bảo tồn của các loài, tác giả tra cứu theo:
- Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007)
- Danh lục Đỏ các loài bị đe dọa của IUCN (2021)
- Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước CITES
- Nghị định số 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi Điều 7 Nghị định 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Kế thừa Báo cáo "Hiện trạng và công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Mường Nhé giai đoạn từ năm 2014-2017" của Ban quản lý Khu BTTN Mường Nhé (năm 2017 ghi nhận 255 loài chim thuộc 54 họ, 17 bộ); đồng thời kết hợp nguồn dẫn liệu điều tra bổ sung vào tháng 03/2021 của TS. Nguyễn Đắc Mạnh và ThS. Giang Trọng Toàn.
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn 43 cá nhân am hiểu địa bàn ở lứa tuổi 18–60, gồm 15 cán bộ kiểm lâm (thuộc Phòng Khoa học, Phòng Kỹ thuật và kiểm lâm địa bàn) và 28 người dân địa phương thường xuyên đi rừng. Phỏng vấn sử dụng phiếu câu hỏi bán cấu trúc kết hợp bộ tài liệu ảnh màu nhận diện (Chim Việt Nam của Nguyễn Cử và cs., 2000; tài liệu của Craig Robson, 2005, 2011) và kiểm tra các vật chứng người dân lưu giữ (lông, mỏ, chân chim, tiêu bản nhồi bông).
- Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập 9 tuyến điều tra thực địa với tổng chiều dài 50,447 km, độ cao dao động từ 610 m đến 1.657 m đi qua các dạng sinh cảnh: rừng thường xanh, rừng bán thường xanh, trảng cây bụi, nương rẫy, rừng tre nứa và rừng phục hồi. Tốc độ di chuyển từ 1,3 đến 2,5 km/h, khung giờ từ 6h30 đến 16h30. Quan sát bằng mắt thường, ống nhòm, ghi nhận âm thanh tiếng hót/kêu (sử dụng thiết bị ghi âm và phát âm thanh dẫn dụ), đo đếm dấu vết (phân, lông, chân) và định vị tọa độ GPS tại các điểm gặp.
- Phương pháp bắt thả chim bằng lưới mờ: Đặt 10 lưới mờ màu đen ít phản quang (kích thước dài 20–30 m, cao 3–4 m) tại các khu vực ranh giới sinh cảnh, khe núi, bìa rừng (chẳng hạn khoảnh 18 mốc 20). Quy trình gồm: chuẩn bị dụng cụ, phát băng 20–30 m, mắc cố định 2 đầu dây, kiểm tra lưới định kỳ 1 giờ/lần. Cá thể mắc lưới được gỡ nhẹ nhàng, chụp ảnh, đo đạc mô tả hình thái, xác định tên khoa học và thả lại môi trường sống ngay tại vị trí bẫy.
- Phương pháp xác định và đánh giá các mối đe dọa (TRA - Threats Reduction Assessment): Dựa trên phương pháp của Margoluis & Salafsky (2001), đánh giá cho điểm các mối đe dọa dựa trên 3 tiêu chí: diện tích ảnh hưởng, cường độ ảnh hưởng và tính cấp thiết.
- Phương pháp xử lý số liệu: Nhập dữ liệu và xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel; định vị tọa độ và xây dựng bản đồ số hóa tuyến điều tra thông qua phần mềm BaseCamp, MapInfo 10.5 và ArcGIS 9.5.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Phần này hệ thống hóa lịch sử phân loại học khu hệ chim Việt Nam qua các giai đoạn: từ công trình đầu tiên của Võ Quý (1975, 1981 với 773 loài), Võ Quý và Nguyễn Cử (1995, 1999 với 828 loài), Nguyễn Cử và cộng sự (2000 với 867 loài), Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011 với 887 loài), đến Richard Craik & Lê Quý Minh (2018 với 916 loài) và Lê Mạnh Hùng và cs. (2020 với 918 loài). Tác giả phân tích chi tiết các biến động taxon như: tách bộ Cun cút (Turniciformes) rồi chuyển họ Turnicidae vào bộ Rẽ (Charadriiformes); tách họ Hồng hoàng ra khỏi bộ Sả; tách họ Chích đớp ruồi (Cettiidae), họ Chích phylo (Phylloscopidae) khỏi họ Chim chích (Sylviidae); chuyển một số giống chim hoét từ họ Chích chòe sang họ Hoét (Turdidae) và sáp nhập các giống oanh, chích chòe vào họ Đớp ruồi (Muscicapidae).
Tác giả cũng điểm lại các đợt khảo sát trước đây tại KBTTN Mường Nhé (quy hoạch chi tiết năm 2008, điều tra đa dạng sinh học năm 2010 của Trung tâm Địa môi trường và Tổ chức lãnh thổ, khảo sát vượn đen tuyền năm 2010, nghiên cứu của Lê Mạnh Hùng và đoàn Đại học Kansas năm 2011, báo cáo của Ban quản lý khu bảo tồn năm 2017). Tác giả đối chiếu danh lục 255 loài năm 2017 và tiến hành chuẩn hóa 54 trường hợp thay đổi về bộ, họ, tên khoa học và tên tiếng Việt theo chuẩn danh lục năm 2011.
Phần II: Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung phần này mô tả chi tiết phương thức tổ chức nghiên cứu. Thông số kỹ thuật của 9 tuyến điều tra ngoài thực địa được ghi nhận cụ thể: Tuyến 1 (7,785 km; cao 782 m), Tuyến 2 từ Trạm Kiểm lâm Sín Thầu lên mốc 0 (5,662 km; cao 1.657 m), Tuyến 3 (4,342 km; cao 782 m), Tuyến 4 (1,3 km; cao 782 m), Tuyến 5 từ Trạm Kiểm lâm Leng Su Sìn vòng qua sau mốc 54 (8,679 km; cao 559 m), Tuyến 6 (7,179 km; cao 610–874 m), Tuyến 7 từ Trạm Kiểm lâm Nậm San lên suối Nậm Nhé đến mốc 102 (8,5 km; cao 622–952 m), Tuyến 8 tại Trạm Kiểm lâm Chung Chải (3,0 km; cao 610–640 m), Tuyến 9 tại Trạm Kiểm lâm Nậm Kè (4,0 km; cao 874–990 m). Quy trình thực nghiệm 4 bước giăng và gỡ chim trên 10 lưới mờ dài 20–30 m tại khoảnh 18 mốc 20 (gồm sinh cảnh rừng phục hồi, rừng hỗn loài và ruộng ven rừng) được chuẩn hóa để đảm bảo an toàn cho các cá thể chim bắt gặp.
Phần III: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Tác giả tổng hợp điều kiện lập địa và xã hội của KBTTN Mường Nhé:
- Vị trí địa lý: Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp huyện Mường Tè (Lai Châu), phía Đông Nam giáp xã Quảng Lâm và xã Na Cô Sa.
- Địa hình và thổ nhưỡng: Địa hình núi cao chia cắt mạnh, nghiêng dốc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Thổ nhưỡng gồm đất mùn vàng nhạt/xám vàng trên núi cao (>1.600 m), đất feralit mùn vàng đỏ núi trung bình (700–1.600 m) và đất dốc tụ chân núi.
- Khí hậu và thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, dãy Hoàng Liên Sơn che chắn làm giảm tác động của gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình năm đạt 22,5°C (dao động từ 0°C đến 39°C), lượng mưa trung bình năm 1.950 mm (80% lượng mưa tập trung vào tháng 6, 7, 8), độ ẩm bình quân 85%. Thủy văn hình thành từ hai mạng lưới nhánh chính là hệ thủy Nậm Ma và hệ thủy Nậm Nhé (chi lưu Nậm Nhé và Nậm Kè) thuộc lưu vực sông Đà, lưu lượng mùa kiệt từ 4–6 m³/s.
- Dân sinh: Huyện Mường Nhé gồm 10 dân tộc cùng cư trú (Mông, Thái, Kinh, Hà Nhì, Dao, Cống, Kháng, Si La, Xạ Phang, Sán Chỉ). Nguồn lao động nông thôn chiếm tới 85% tổng số lao động nhưng trình độ chưa qua đào tạo chiếm đa số, nguồn sống chủ yếu phụ thuộc vào canh tác nương rẫy và khai thác tài nguyên tự nhiên.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này công bố danh sách 271 loài chim, phân tích cơ cấu phân loại, các loài bổ sung mới, mức độ nguy cấp, phân tích các mối đe dọa và hệ thống giải pháp đề xuất:
- Nhận diện 3 nhóm mối đe dọa sinh cảnh và quần thể: (1) Săn bắn, đánh bẫy trực tiếp làm suy giảm kích thước quần thể; (2) Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ (thu hái mật ong rừng, thảo dược, dựng lán trại) và chăn thả gia súc tự do trong rừng gây xáo trộn, nhiễu loạn sinh cảnh sống; (3) Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy và khai thác gỗ làm nhà làm mất sinh cảnh sống nguyên vẹn của chim.
- Xây dựng hệ thống giải pháp quản lý, bảo tồn dựa trên kết quả khảo sát thực địa và mức độ đánh giá nguy cơ.
Kết quả và đóng góp của nghiên cứu
Kết quả điều tra tổng hợp từ các phương pháp thực địa, phỏng vấn và kế thừa tài liệu đã lập danh lục ghi nhận 271 loài chim thuộc 159 giống, 58 họ và 17 bộ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé.
Cơ cấu phân loại các bộ chim được tổng hợp trong bảng số liệu sau:
| TT |
Tên bộ |
Tên khoa học |
Số họ |
Số giống |
Số loài |
| 1 |
Bộ Gà |
Galliformes |
1 |
6 |
8 |
| 2 |
Bộ Ngỗng |
Anseriformes |
1 |
2 |
2 |
| 3 |
Bộ Hạc |
Ciconiiformes |
1 |
5 |
5 |
| 4 |
Bộ Cắt |
Falconiformes |
1 |
2 |
2 |
| 5 |
Bộ Ưng |
Accipitriformes |
1 |
7 |
8 |
| 6 |
Bộ Sếu |
Gruiformes |
1 |
2 |
2 |
| 7 |
Bộ Rẽ |
Charadriiformes |
2 |
2 |
2 |
| 8 |
Bộ Bồ câu |
Columbiformes |
1 |
5 |
8 |
| 9 |
Bộ Vẹt |
Psittaciformes |
1 |
1 |
2 |
| 10 |
Bộ Cu cu |
Cuculiformes |
1 |
8 |
13 |
| 11 |
Bộ Cú |
Strigiformes |
1 |
5 |
8 |
| 12 |
Bộ Cú muỗi |
Caprimulgiformes |
1 |
1 |
2 |
| 13 |
Bộ Yến |
Apodiformes |
1 |
3 |
4 |
| 14 |
Bộ Nuốc |
Trogoniformes |
1 |
1 |
1 |
| 15 |
Bộ Sả |
Coraciiformes |
5 |
8 |
11 |
| 16 |
Bộ Gõ kiến |
Piciformes |
2 |
9 |
15 |
| 17 |
Bộ Sẻ |
Passeriformes |
36 |
92 |
178 |
| Tổng cộng |
17 bộ |
|
58 |
159 |
271 |
Bộ Sẻ (Passeriformes) chiếm ưu thế áp đảo về độ đa dạng với 36 họ (chiếm 62,07% tổng số họ), 92 giống (chiếm 57,86% tổng số giống) và 178 loài (chiếm 65,68% tổng số loài). Đứng thứ hai về số loài là bộ Gõ kiến (Piciformes) với 2 họ, 9 giống, 15 loài; bộ Cu cu (Cuculiformes) có 1 họ, 8 giống, 13 loài; bộ Sả (Coraciiformes) có 5 họ, 8 giống, 11 loài. Bộ Nuốc (Trogoniformes) có mức đa dạng thấp nhất với chỉ 1 họ, 1 giống và 1 loài ghi nhận (Harpactes erythrocephalus).
Nghiên cứu xác định được nhiều loài chim có giá trị bảo tồn cao trong các danh mục pháp lý và khoa học:
- Theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP: Ghi nhận 5 loài thuộc Nhóm IB (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) gồm Gà lôi trắng (Lophura nycthemera), Gà tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum), Niệc nâu (Anorrhinus tickelli), Hồng hoàng (Buceros bicornis), Niệc cổ hung (Aceros nipalensis). Có 25 loài thuộc Nhóm IIB (hạn chế khai thác, sử dụng) như Gà so họng hung, Gà so ngực gụ, Công, Cắt nhỏ bụng trắng, Cắt lưng hung, Diều ăn ong, Diều cá bé, Diều hoa miến điện, Vẹt ngực đỏ, Đuôi cụt nâu, Cao cát bụng trắng, Khướu đầu trắng, Khướu khoang cổ, Khướu bạc má, Họa mi.
- Theo Sách đỏ Việt Nam (2007): Có 1 loài xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR) là Niệc cổ hung (Aceros nipalensis); 1 loài Nguy cấp (EN) là Công (Pavo muticus); các loài ở mức Sắp nguy cấp (VU) gồm Gà so ngực gụ, Gà tiền mặt vàng, Bói cá lớn (Megaceryle lugubris), Niệc nâu và Hồng hoàng.
- Theo Danh lục Đỏ IUCN (2021): Ghi nhận các loài Sắp nguy cấp (VU) gồm Diều cá bé (Ichthyophaga humilis), Hồng hoàng (Buceros bicornis) và Niệc cổ hung (Aceros nipalensis).
- Theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP: Ghi nhận các loài thuộc diện ưu tiên bảo tồn gồm Niệc nâu, Hồng hoàng và Niệc cổ hung.
Đóng góp của khóa luận đối với cơ sở dữ liệu khu hệ chim tại địa phương:
- Chuẩn hóa phân loại học và tên khoa học cho 54 trường hợp sai khác hoặc chưa thống nhất trong báo cáo giai đoạn 2014–2017 của Ban quản lý khu bảo tồn.
- Bổ sung 16 loài chim mới cho danh lục KBTTN Mường Nhé (nâng tổng số từ 255 loài ghi nhận năm 2017 lên 271 loài), bao gồm các loài được xác nhận ngoài thực địa qua quan sát, tiếng hót hoặc bắt thả lưới mờ như: Vạc (Nycticorax nycticorax), Cò ruồi (Bubulcus ibis), Phướn/Coọc (Rhopodytes tristis), Phường chèo nhỏ (Pericrocotus cinnamomeus), Phường chèo đỏ đuôi dài (Pericrocotus ethologus), Chèo bẻo (Dicrurus macrocercus), Chèo bẻo mỏ quạ (Dicrurus annectens), Chích hông vàng (Phylloscopus proregulus), Chích đớp ruồi đầu xám (Seicercus valentini), Chích bông đuôi dài (Orthotomus sutorius), Kim oanh tai bạc (Leiothrix argentauris), Khướu mỏ quặp bụng hung (Pteruthius rufiventer), Sáo nâu (Acridotheres tristis), Hoét đen, Oanh đuôi cụt lưng xanh (Tarsiger cyanurus).
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn: Tăng cường tuần tra tại các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và vùng giáp ranh nương rẫy; kiểm soát việc mang súng săn, bẫy lưới vào rừng; quy hoạch khoanh vùng chăn thả gia súc; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và hỗ trợ sinh kế cho các bản vùng đệm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
- Hạn chế về thời gian và tần suất khảo sát: Nghiên cứu thực hiện trong khung thời gian 5 tháng (01/2021 đến 05/2021) với 2 đợt khảo sát thực địa ngắn ngày nên chưa phản ánh trọn vẹn chu kỳ biến động số lượng cá thể theo mùa, đặc biệt là nhóm chim di cư trú đông và chim sinh sản.
- Hạn chế về tài liệu phân loại: Do cuốn Các loài chim Việt Nam của Lê Mạnh Hùng và cs. xuất bản vào đầu năm 2021 (thời điểm khóa luận đã đi vào giai đoạn hoàn thiện), danh mục loài của khóa luận vẫn duy trì hệ thống phân loại theo Danh lục chim Việt Nam (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011) mà chưa kịp đồng bộ các taxon mới nhất công bố năm 2020.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng các đợt điều tra thực địa vào các tháng mùa mưa và mùa thu đông để thu thập dữ liệu về các loài chim di cư; bổ sung thêm mẫu vật, ảnh chụp chất lượng cao; cập nhật bảng danh lục phân loại theo tài liệu mới nhất của Lê Mạnh Hùng và cs. (2020); khảo sát sâu hơn về mật độ quần thể của các loài nguy cấp như Niệc cổ hung, Hồng hoàng, Gà tiền mặt vàng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo phù hợp cho:
- Sinh viên, học viên cao học thuộc các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học, Bảo tồn đa dạng sinh học và Quản lý môi trường trong việc tham khảo phương pháp điều tra thực địa (thiết kế tuyến, giăng lưới mờ bắt thả và đánh giá mối đe dọa bằng phương pháp TRA).
- Cán bộ kỹ thuật, lực lượng kiểm lâm tại Ban quản lý KBTTN Mường Nhé và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên trong công tác tra cứu danh mục loài, kiểm soát các loài chim nguy cấp, quý, hiếm (Nhóm IB, IIB theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP).
- Các nhà nghiên cứu khu hệ động vật rừng khi tìm kiếm dẫn liệu phân bố địa lý của các loài chim đặc trưng vùng núi cao Tây Bắc.
Các phần có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm: Bảng danh lục chi tiết 271 loài chim kèm tra cứu tình trạng bảo tồn (SĐVN 2007, IUCN 2021, NĐ06/2019/NĐ-CP); bảng chuẩn hóa các thay đổi danh pháp phân loại; và thông số kỹ thuật tọa độ GPS của 9 tuyến điều tra cùng 10 điểm đặt lưới mờ.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận đã ghi nhận được bao nhiêu loài chim tại KBTTN Mường Nhé và tăng bao nhiêu loài so với số liệu năm 2017?
Nghiên cứu ghi nhận tổng cộng 271 loài thuộc 159 giống, 58 họ và 17 bộ chim. So với báo cáo năm 2017 của Ban quản lý khu bảo tồn (255 loài, 54 họ, 17 bộ), danh lục đã tăng thêm 16 loài và 4 họ sau khi tiến hành điều tra thực địa và chuẩn hóa phân loại.
Bộ chim nào chiếm ưu thế lớn nhất về số họ và số loài tại khu bảo tồn?
Bộ Sẻ (Passeriformes) chiếm ưu thế lớn nhất với 36 họ, 92 giống và 178 loài, chiếm 65,68% tổng số loài chim được ghi nhận tại khu bảo tồn. Tiếp theo là bộ Gõ kiến (Piciformes) với 15 loài và bộ Cu cu (Cuculiformes) với 13 loài.
Những loài chim nào tại Mường Nhé có mức độ đe dọa cao nhất theo Sách đỏ Việt Nam và Nghị định 06/2019/NĐ-CP?
Loài có mức độ đe dọa cao nhất theo Sách đỏ Việt Nam (2007) là Niệc cổ hung (Aceros nipalensis) xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR) và Công (Pavo muticus) xếp ở mức Nguy cấp (EN). Theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP, có 5 loài thuộc Nhóm IB (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) gồm: Gà lôi trắng, Gà tiền mặt vàng, Niệc nâu, Hồng hoàng và Niệc cổ hung.
Quy mô và phương pháp điều tra thực địa của tác giả được triển khai như thế nào?
Tác giả đã phỏng vấn 43 người (15 cán bộ kiểm lâm và 28 người dân); thiết lập 9 tuyến điều tra thực địa với tổng chiều dài 50,447 km ở dải độ cao 610–1.657 m; đồng thời sử dụng 10 lưới mờ (chiều dài 20–30 m, chiều cao 3–4 m) đặt tại khoảnh 18 mốc 20 để bắt, chụp ảnh nhận diện và thả chim tại chỗ.
Ba nhóm mối đe dọa chính đối với các loài chim tại khu vực nghiên cứu là gì?
Các mối đe dọa được xác định gồm: (1) Săn bắn, bẫy bắt làm suy giảm trực tiếp kích cỡ quần thể; (2) Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ (thu mật ong rừng, dựng lán) và chăn thả gia súc tự do gây nhiễu loạn môi trường sống; (3) Phá rừng làm nương rẫy và khai thác gỗ làm nhà làm suy thoái, phân mảnh sinh cảnh rừng.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Phàn A Cóng đã hoàn thành việc điều tra, thống kê và cập nhật danh lục khu hệ chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé với 271 loài thuộc 159 giống, 58 họ và 17 bộ. Nghiên cứu đã làm rõ tính phong phú về mặt phân loại học, xác định sự hiện diện của nhiều loài quý hiếm có giá trị bảo tồn quốc gia và quốc tế như Niệc cổ hung, Hồng hoàng, Gà tiền mặt vàng. Đồng thời, công trình đã phân tích thực trạng các mối đe dọa từ hoạt động nhân sinh và đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Đây là công trình điều tra thực địa có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên rừng tại khu vực Tây Bắc.