59 Chương 5 MỘT SỐ TÔN GIÁO LỚN TRÊN THẾ GIỚI Nhân loại từ khi có tôn giáo đến nay đã từng chứng kiến sự ra đời, tồn tại, mất đi của nhiều tôn giáo và nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Song, số tôn giáo tồn tại với tính cách là một tôn giáo lớn trên thế giới, có hệ thống giáo lý, giáo luật, tổ chức tôn giáo có hệ thống chức sắc, cơ sở vật chất phục vụ cho sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo và có lực lượng tín đồ đông đảo ở nhiều nước thì phải nói tới Phật giáo; Kytô giáo và Hồi giáo. Khái lược sự ra đời và phát triển 1. Tiền đề kinh tế-xã hội, văn hoá, tư tưởng Ấn Độ cổ đại là một nước lớn.
Chủ nhân chính của nền văn minh Ấn Độ cổ đại là người Đravida (cư trú ở phía nam) và người Arian ( ở phía bắc). Lịch sử Ấn Độ cổ đại chia thành 3 thời kỳ chính. - Thời kỳ văn hoá Haráppa (văn minh sông Ấn) vào khoảng thiên niên kỷ III-II trước công nguyên. - Thời kỳ Vêđa, với sự hình thành đạo Bàlamôn, vào khoảng thiên niên kỷ II-I trước công nguyên.
- Thời kỳ cuối của Ấn Độ cổ đại với sự xuất hiện đạo Phật, vào khoảng giữa thiên niên kỷ I trước công nguyên đến thế kỷ II sau công nguyên. Vào giữa thế kỷ I trước công nguyên, đặc điểm nổi bật về kinh tế -xã hội Ấn Độ là nền kinh tế nông nghiệp - nông thôn, tự cung tự cấp và xã hội phân hoá thành những đẳng cấp khác nhau. Các đẳng cấp này được luật Manu của Ấn Độ thừa nhận và xã hội đẳng cấp ấy được gọi là chế độ Vácna ( màu sắc). Do xã hội phân chia thành đẳng cấp một cách khắc nghiệt đã tạo nên mâu thuẫn xã hội gay gắt.
Đặc biệt, đẳng cấp Thủđàla căm ghét chế độ xã hội đương thời, hä luôn mong muèn thoát khỏi cuộc sống khổ cực. Lúc này, về tư tưởng, xã hội Ấn Độ hình thành nhiều trường phái triết học - tôn giáo, được chia thành hai phái, phái chính thống và không chính thống. Các trào lưu tư tưởng dù ở phái nào đều trực tiếp hay gián tiếp, dù ít hay nhiều đều phản kháng lại chế độ đẳng cấp và đạo Bàlamôn. Như vậy, Phật giáo ra đời ở Ấn Độ, bắt nguồn từ nguồn gốc kinh tế - xã hội, văn hoá tư tưởng, là một trào lưu tư tưởng chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bàlamôn.
Đồng thời, trào lưu tư tưởng đó phản ánh tâm trạng, cuộc sống khốn khó, khổ cực của tầng lớp bần cùng trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ. Người sáng lập đạo Phật Theo truyền thuyết, người sáng lập đạo Phật là Tất-đạt-đa, thái tử con vua Sútđôđana thuộc bộ tộc Thích Ca (Sakya) trị vì một vương quốc nhỏ là Catỳlavệ (Kapilaxtu) ở vùng trung lưu sông Hằng. Mẹ là hoàng hậu Meya. Tất-đạt-đa sinh ngày 15 tháng 4 năm 563 (TCN).
Thời niên thiếu, Tất-đạt-đa sống trong nhung lụa và được mọi người tránh cho những ưu lo, phiền não. Tất-đạt-đa ít khi rời khỏi cung thành, chỉ sử dụng thời gian vào học hành, yến tiệc, tế tự…nên không hề biết những gì là đen tối, xấu xa, cực nhọc, nỗi bất hạnh của con người Lý do dẫn đến bước ngoặt trong tư tưởng Tất-đạt-đa là những cuộc gặp gỡ bất ngờ, ngoài cửa thành và ông nhận ra rằng, bệnh tật, già cả, chết chóc, đói kém là những bi kịch, bất hạnh cho tất cả mọi người. Vì vậy, năm 29 tuổi, Tất-đạt-đa quyết định rời bỏ hoàng cung, gia đình, từ chối giàu sang và quyền lực đi tìm chân lý để giải thoát nỗi khổ cho con người. Sau 6 năm tu hành khổ hạnh ở trong rừng nhưng vẫn không đạt được sự yên tĩnh trong tâm hồn và không tìm ra chân lý.
Từ thực tiễn tu hành, Tất-đạt-đa thấy cuộc sống đầy vật chất, thoả mãn dục vọng lẫn cuộc sống khổ hạnh ép xác đều vô nghĩa không đúng đắn. Ông cho cuộc sống thứ nhất là tầm thường, vô tích sự. Cuộc sống thứ hai cũng tối tăm không xứng đáng để con người noi theo và thực hiện. Theo ông, con đường đúng đắn là phải "Trung đạo", đó là con đường tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lý, con đường dẫn tới sự yên tĩnh và sự bừng sáng của tâm hồn trí tuệ.
Sau 49 ngày thiền định dưới gốc cây Bồ đề, chìm đắm trong những tư duy sâu thẳm, cuối cùng ông tuyên bố là đã đến với chân lý, hiểu được bản chất của sự tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và con đường cứu vớt loài người thoát khỏi nỗi khổ. Sau khi giác ngộ, Tất-đạt-đa đi truyền bá đức tin và mất vào năm 483 TCN, tròn 80 tuổi. Từ đó ông có hiệu là Thích Ca Màu Ni (Sakyamuni), trở thành bậc thánh của dòng họ Thích Ca và được gọi là Bútđa (Buddha), phiên âm qua chữ Hán là Tất-đạt-đa, còn gọi là Phật. Sau khi Phật tịch, các đệ tử tiếp tục phát triển đạo của Tất-đạt-đa, dựng hình tượng ông và chọn cây Bồ đề làm biểu tượng nhà Phật - tượng trưng cho sự giác ngộ.Kết tập kinh điển và quá trình truyền bá đạo Phật Sau khi Phật tịch, các đệ tử tiêu biểu như Xá Lợi Phát; Mục Kiên Liên, Phu lâu La, Ca Chiên Diên, ĐạiCa Diếp, ANaLuật, ANanĐa, La hầu La…nhận thấy cần phải biên tập, đúc kết lời Phật dạy thành sách để lưu truyền cho hậu thế.
Phật giáo đã trải qua 4 lần kết tập kinh điển của mình: - Lần 1, được tổ chức sau một năm khi Phật Tịch. Lần 2, vào thiên niên kỷ IV (TCN). Lần 3, vào khoảng thế kỷ III (TCN). Lần 4, tổ chức đại hội dưới triều vua Canhịsắcca (KaniSka) vào năm 125 đến 150 sau công nguyên 61 Kinh điển nhà Phật viết bằng tiếng Phạn (Sancrit), gồm ba loại gọi là Tam Tạng: Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng.
Kinh tạng (Sutrapitaka) là sách ghi lời phật Thích ca giảng về giáo lý, gồm 5 bộ lớn: Trường bộ kinh (Digha NiKay), Trung bộ kinh (Majjma NiKaya); Tương ứng bộ kinh (Samgútta NiKaya); Tăng bộ kinh (Angúttara NiKaya); Tiểu bộ kinh (Khuđaca NiKaya) gồm 15 tập. Năm bộ kinh trên Phật giáo Đại thừa còn gọi bằng tên khác là: Trường A hàm, Trung A hàm, Trung nhất A hàm, Tăng nhất A hàm và Tiểu A hàm. Ngoài năm bộ kinh trên, Phật giáo Đại thừa còn có một số bộ kinh khác như Kinh hoa nghiêm, Kinh diệu pháp liên hoa; Bát nhã Balamật, Kinh lăng nghiêm, Kinh kim cương… (Riêng kinh này phái Tiểu thừa không chấp nhận). Luật Tạng (Vinaya Pitaka), là sách ghi những giới luật do Tất-đạt-đa chế định làm khuôn phép cho việc học tập, sinh hoạt, tu hành… nhất là đối với những người xuất gia tu hành.
Luận tạng (Abhidhamma Pitaka ) là sách để giới thiệu giáo lý một cách có hệ thống, phê bình uốn nắn những nhận thức sai trái, cũng như các quan điểm chống đối học thuyết nhà Phật. Khi mới ra đời, Phật giáo được đông đảo quần chúng tin theo, nhất là những người có địa vị xã hội thấp kém. Vì giáo lý Phật giáo tập trung bàn về nỗi khổ trần thế, việc chấm dứt nỗi khổ trần thế, nêu lên khả năng chế ngự dục vọng, vấn đề tự giải thoát nỗi khổ của con người, sự bình đẳng, tình thương yêu con người với nhau (từ, bi, hỉ, xả). Luật lệ, lễ nghi đơn giản, ít tốn kém, không rườm rà như đạo Bàlamôn.
Vì thế, trong một thời gian ngắn Phật giáo đã lan toả khắp Ấn Độ. Song, đến thời vua Gúpta Phật giáo không còn giữ được vai trò như trước và dần phải nhường chỗ cho Ấn độ giáo - một tôn giáo kết hợp đạo Bàlamôn với một số tín ngưỡng dân gian, và một số yếu tố của đạo Phật. Đặc biệt, từ thế kỷ VIII trở đi, khi Hồi giáo xâm nhập vào Ấn Độ, thì Phật giáo càng suy tàn. Đến năm 125-130 Phật giáo phân hoá thành hai phái: Đại thừa và phái Tiểu thừa.
Mặc dù bị suy tàn ở nơi phát sinh nhưng Phật giáo lại phát triển một cách nhanh chóng ra ngoài Ấn Độ cổ. Ở phía Bắc, Phật giáo phát triển ở các vùng Trung Á, Mông Cổ, Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên…. Ở phía Nam, Phật giáo đến Xirilanca, Mianma, Thái Lan, Lào, Cămpuchia, Việt Nam, Inđônêxia, Malaixia… Đến nay, Phật giáo đã trở thành một tôn giáo lớn trên thế giới, tín đồ Phật giáo hiện nay có mặt ở hầu hết các châu lục, với một số lượng lớn. Phật giáo đã, đang và sẽ còn là lối sống, tư duy của một phần nhân loại.Giáo lý, giáo luật, lễ nghi 62 2.
Nội dung cơ bản của giáo lý Phật giáo 2.Quan niệm về vũ trụ và nhận thức luận Về vũ trụ quan, ngoài chức năng tôn giáo, giáo lý Phật giáo còn là một triết thuyết sâu sắc và tinh tế. Giáo lý Phật giáo khẳng định rằng thế giới này là thế giới vật chất, do vạn Pháp tạo nên. Mỗi sự vật là một Pháp không do phép màu nào sinh ra Vạn Pháp trong thế giới bao gồm hai loại: Hữu tình và vô tình. Loại hữu tình bao gồm những động vật có thân sắc, hình tướng, có tình cảm.
Loại vô tình bao gồm những loại thực vật, khoáng vật, vật vô tri vô giác. Vạn Pháp luôn vận động, biến đổi theo luật Vô thường với chu trình: Sinh - Trụ - Dị - Diệt (với loại hữu tình) và Thành - Trụ - Hoại - Không (với loại vô tình). Theo luật Vô thường này, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều phải trải qua các giai đoạn: - Nảy nở, sinh ra (sinh) - Tồn tại, phát triển trong một không gian, thời gian nhất định (trụ) - Hư hoại, thay đổi (dị, hoại ) - Tiêu tan, mất đi (diệt, không ) Ví như một con người, khi cất tiếng khóc chào đời gọi là sinh. Quãng thời gian để con người đó hình thành, phát triển dáng vóc, tâm sinh lý, thể chất…gọi là trụ.
Lúc già, ốm đau gọi là dị, lúc trút hơi thở cuối cùng, vĩnh biệt cõi đời gọi là diệt. Luật Vô thường của Phật giáo còn cho rằng, không phải sự vật hiện tượng sinh ra mới gọi là Sinh, mất đi hay chết mới gọi là Diệt, mà trong sự sống đã có sự chết. Chết không phải là hết mà là điều kiện của một sự sinh thành mới. Sinh và Diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong một sự vật cũng như trong toàn thể vũ trụ bao la.
Vận động vô thường của sự vật trong vũ trụ bị chi phối bởi luật Nhân - Duyên. Thuyết Nhân-Duyên của Phật giáo cho rằng, Nhân là mầm tạo quả; Duyên là điều kiện, phương tiện để tạo quả. Khi Nhân - Duyên hoà hợp thì sự vật sinh ra, Nhân - Duyên tan rã thì sự vật diệt.