QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ ----- GIÁO TRÌNH CHỦ NGHĨA VÔ THẦN HỌC NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN – 2007 Chủ đề 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA CHỦ NGHĨA VÔ THẦN KHOA HỌC 1. Đối tượng của chủ nghĩa vô thần khoa học 1. Khái niệm và đối tượng của chủ nghĩa vô thần khoa học Chủ nghĩa “vô thần”, gốc từ Hy Lạp, là athéos, có nghĩa là phủ định thần thánh. Là một bộ phận của triết học, thuộc về ý thức xã hội, chủ nghĩa vô thần là một hệ thống quan điểm lý luận phủ định thần thánh, phủ định các lực lượng siêu nhiên, chỉ ra bản chất xã hội của nó và xác định con đường, cách thức khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội.
Chủ nghĩa vô thần là thế giới quan của các giai cấp và các tập đoàn xã hội tiến bộ, đối lập với thế giới quan duy tâm của các giai cấp, các lực lượng phản khoa học, phản động trong giải thích về thế giới và vị trí con người trong thế giới. Chủ nghĩa vô thần khoa học nghiên cứu nguồn gốc, bản chất tôn giáo, lịch sử của các học thuyết vô thần, chỉ ra con đường khắc phục thế giới quan duy tâm tôn giáo và hình thành thế giới quan duy vật khoa học. Chủ nghĩa vô thần khoa học là một bộ phận không tách rời triết học Mác- Lênin, góp phần làm cho thế giới quan duy vật hoàn chỉnh, là cơ sở phương pháp luận của nhận thức và cải tạo hiện thực. Chủ nghĩa vô thần khoa học là một bộ phận của thế giới quan duy vật khoa học của giai cấp công nhân và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo xã hội.
Tuy nhiªn, chủ nghĩa vô thần khoa học là một lĩnh vực tri thức có tính độc lập tương đối, có phạm vi riêng, có đối tượng nghiên cứu riêng. Đối tượng của chủ nghĩa vô thần khoa học là nghiên cứu những vấn đề có tính quiy luật của sự phát sinh, tiến triển, sự khắc phục ảnh hưởng của thế giới quan duy tâm tôn giáo và tính quy luật của sự hình thành, phát triển thế giới quan duy vật khoa học. Chủ nghĩa vô thần khoa học nghiên cứu bản chất xã hội của tôn giáo. Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo thế giới hiện thực vào đầu óc con người.
Chỉ trên cơ sở phân tích khoa học về tôn giáo, phân tích bản chất và vai trò xã hội 3 của nó thì mới có được một lý luận vô thần khoa học. Chủ nghĩa vô thần khoa học phân tích, phê phán những quan điểm duy tâm thần bí, phản khoa học, phản văn hoá trong các quan niệm và khái niệm của tôn giáo. Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, chủ nghĩa vô thần khoa học phê phán tính chất sai lầm, phản khoa học của các quan niệm như niềm tin vào thần thánh; sự bất tử của linh hồn; sự cứu vớt cá nhân; sự trừng phạt khủng khiếp; sự đền bù ở thế giới bên kia.Mác cho rằng, việc phê phán tôn giáo làm cho con người thoát khỏi ảo tưởng, để con người tư duy, hành động, xây dựng tính hiện thực của mình, với tư cách là một con người đã thoát khỏi ảo tưởng và đạt đến tuổi có lý trí. Chủ nghĩa vô thần khoa học nghiên cứu lịch sử các học thuyết vô thần; sử dụng các tư tưởng có giá trị mà các học thuyết vô thần trước đó tích luỹ được.
Chủ nghĩa vô thần khoa học phản ánh thế giới quan của các giai cấp, tÇng lớp xã hội có khuynh hướng tiến bộ, đấu tranh chống tôn giáo, nhà thờ gắn liền với đấu tranh chống các lực lượng xã hội bảo thủ, phản động. Tư tưởng vô thần xuất hiện từ thời cổ đại. Các nhà triết học Hylạp cổ đại theo đường lối triết học duy vật từ Đêmôcrít (460-370 TCN) đến Êpiquya (341-270 TCN) đều cho rằng, không có Thượng đế, không có thần linh, chỉ có hình ảnh của chúng là những thứ có được do trí tưởng tượng của con người tạo ra. Linh hồn của con người cũng do nguyên tử cấu tạo nên.
Vào thế kỷ XVIII, các nhà tư tưởng Pháp phê phán tôn giáo, nhà thờ, đồng thời phê phán trật tự xã hội phong kiến. Tư tưởng vô thần luôn luôn mang đặc điểm tiến bộ, khẳng định thế giới quan mới, tiên tiến. Nội dung các quan điểm vô thần thường gắn với đặc điểm đấu tranh tư tưởng, với sự phát triển của khoa học tự nhiên và của triết học. Chủ nghĩa vô thần trước Mác đã gắn liền vấn đề phê phán tôn giáo với việc giải phóng con người khỏi xiềng xích của sự dốt nát và thành kiến, sự sợ hãi và nhẫn nhục.
Trong các tác phẩm của Mác, Ăngghen và Lênin đã chỉ ra những mặt tích cực của chủ nghĩa vô thần trước Mác, thông qua việc phủ định Thượng đế và khẳng định sự tồn tại của con người. Theo Mác, việc phê phán tôn giáo dẫn đến học thuyết cho rằng con người là tồn tại tối cao đối với con người. Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch sử và lập trường giai cấp mµ chủ nghĩa vô thần trước Mác có những hạn chế về khoa học, không hiểu bản chất xã hội 4 của tôn giáo, không làm rõ nguyên nhân xã hội của tôn giáo. Chủ nghĩa vô thần khoa học thay thế chủ nghĩa vô thần trước Mác là tất yếu.
Chủ nghĩa vô thần khoa học coi tôn giáo trong xã hội có đối kháng giai cấp là sản phẩm tất yếu của chế độ người bóc lột người, của sự áp bức về xã hội, về kinh tế và tinh thần. Chủ nghĩa vô thần khoa học nhấn mạnh nhiệm vụ phê phán tôn giáo một cách khoa học và chỉ ra sự đòi hỏi phải thay đổi các quan hệ xã hội đã sản sinh ra tôn giáo. Mác cho rằng, phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành sự phê phán chính trị. Chủ nghĩa vô thần khoa học tiếp thu các giá trị chủ nghĩa vô thần trước Mác trong phê phán tôn giáo, chỉ ra nguồn gốc tôn giáo trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, gắn liền nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm duy tâm, phản khoa học, phản văn hóa của tôn giáo với giải phóng quần chúng lao động, chỉ ra con đường để khắc phục tôn giáo.
Như vậy, chủ nghĩa vô thần khoa học vạch rõ tính chất ảo tưởng hoang đường trong quan niệm của tôn giáo (về thế giới, con người, ý niệm Thượng đế, đấng sáng thế, sự bất tử của linh hồn. Chủ nghĩa vô thần khoa học chỉ rõ về mặt lý luận tính chất sai lầm của các quan điểm duy tâm tôn giáo, làm sáng tỏ bản chất xã hội của tôn giáo điều kiện, nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh và tồn tại của tôn giáo, chỉ ra những con đường khắc phục tôn giáo. Chủ nghĩa vô thần khoa học nghiên cứu quy luật của sự khắc phục thế giới quan duy tâm tôn giáo và hình thành, phát triển thế giới quan vô thần khoa học. Nghiên cứu tôn giáo không phải mục đích tự thân của chủ nghĩa vô thần khoa học.
Sự phân tích bản chất, chức năng xã hội của tôn giáo gắn liền với nghiên cứu tính quy luật khắc phục thế giới quan duy tâm tôn giáo, tính quy luật hình thành, phát triển thế giới quan vô thần khoa học. Tôn giáo, tín ngưỡng – khách thể nghiên cứu của chủ nghĩa vô thần khoa học * Tôn giáo Quan niệm về tôn giáo được thịnh hành trong tư tưởng của các nhà thần học thời trung cổ. Ôguytxtanh (354-430) cho r»ng chỉ có Thượng đế sáng tạo ra thế giới và nhận thức được thế giới. Thượng đế là cái huyền bí, hư ảo.
Tômát Đacanh (1225-1274) cho Thượng đế sáng tạo ra thế giới, là nguyên nhân đầu tiên và nguyên nhân cuối cùng của thế giới. Thượng đế là nguồn gốc của mọi chân lý, là mục đích tối cao, là “quy luật”vĩnh viễn thống 5 trị mọi cái. Ông cho, những chân lý thần học là “siêu lý trí”, triết học phải phụ thuộc vào thần học. Ngược lại với quan điểm duy tâm, trong lịch sử đã hình thành các quan điểm duy vật về tôn giáo.
Côpécních (1473-1543) bác bỏ Chúa sáng tạo thế giới. Hium (1711-1776) cho rằng, nguồn gốc tôn giáo là sự tưởng tượng của con người, nó khuyến khích cảm giác sợ hãi và hy vọng. Điđrô (1713-1784) cho không phải tôn giáo sáng tạo ra con người, mà chính con người sáng tạo ra tôn giáo. Phủ nhận sự thống trị của Thượng đế.
Với Hônbách (1723-1789), nguồn gốc tôn giáo là sự ngu dốt và yếu ớt của con người trước mọi hiện tượng tự nhiên. Ông cho rằng, ngu dốt lo sợ, đau khổ bao giờ cũng là nguồn gốc của những quan niệm đầu tiên của con người về thần linh. Chính giai cấp thống trị lợi dụng sự ngu dốt của nhân dân mà sử dụng tôn giáo như một thứ vũ khí để nô dịch họ. Hônbách đã định nghĩa thần học là khoa học mang mầu sắc thần linh do chúng ta suy nghĩ về những cái mà chúng ta không hiểu, và làm cho chúng ta mất quan niệm rõ ràng về những điều mà chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được.
Phơbách (1804-1872) là người có công lớn trong phê phán tôn giáo. Ông coi tôn giáo thực chất chỉ là sự thể hiện bản chất con người dưới hình thức thần bí. Tôn giáo là bản chất con người đã bị tha hoá. Trong lịch sử đã có rất nhiều định nghĩa về tôn giáo.
Taylor (1833- 1917): cho tôn giáo là sự tin tưởng vào các thực thể tâm linh. Định nghĩa này bước đầu đã chỉ ra bản chất tôn giáo là quan hệ giữa con người và thực thể tâm linh. Sau Taylor có các định nghĩa khác về tôn giáo nhằm làm rõ những mặt, khía cạnh khác nhau của tôn giáo. Durkhein định nghĩa từ góc độ bản thể: Tôn giáo là hệ thống cố kết những tín ngưỡng và thực hành có liên quan đến các sự vật thiêng liêng, gắn với một cộng đồng tinh thần gọi là giáo hội.
Lúckman định nghĩa từ chức năng: Tôn giáo là thế giới quan. Schmidt định nghĩa: Tôn giáo là con đường cho tất cả. Từ điển “thuật ngữ tôn giáo” định nghĩa: Tôn giáo là lĩnh vực cần thiết cho những người muốn đối thoại và thực hành với cái thiêng liêng và thần thánh.