đặt vấn đề quan hệ nối kết giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là sự tạo tác văn hóa của ngôn ngữ và văn học. Như một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đặt một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 chân ở văn học và chân kia mặt đất, như là một diễn ngôn lí thuyết, phê bình sinh thái dàn xếp giữa con người (human) và thế giới phi nhân loại (nonhuman)”. Tư tưởng triết học và quan niệm thẩm mỹ của phê bình sinh thái Mặc dù, nhiều nhà nghiên cứu sinh thái cho rằng phê bình sinh thái không có lịch sử của nó, nghĩa là phong trào này mới xuất phát từ những năm 70 của thế kỉ XX. Tuy nhiên,bất kì lí thuyết nào cũng có cội nguồn của nó.
Triết học phương Tây đã manh nha các tư tưởng sau này trở thành tiền đề cho phê bình sinh thái: tư tưởng sinh thái của Rousseau, Darwin, Heidegger.Nghiên cứu về phương diện tiến hóa của Darwin đã chứng minh một cách thuyết phục bằng khoa học, giáng một đòn mạnh mẽ vào tư tưởng “con người kiểu mẫu của muôn loài” có thể đứng cao hơn tất thảy. Các nhà triết học hiện tượng luận như Hussel, Ingarden, Heidegger.đi vào thế giới nhân sinh bên trong của con người, quan tâm nhiều đến tri giác. Họ cho rằng con người cảm nhận thế giới bằng chính cảm giác, trực giác của mình. Đặc biệt, phê bình sinh thái ảnh hưởng trực tiếp nhất từ tư tưởng triết học các trường phái của luân lí học môi trường phương Tây hiện đại như: Sinh thái học bề sâu, Đại địa luân lí học, Tự nhiên giá trị luận, Động vật giải phóng.Sinh thái học bề sâu cho rằng thế giới tự nhiên là một sự cân bằng tinh tế của mối quan hệ phức tạp, trong đó sự tồn tại của sinh vật phụ thuộc vào sự tồn tại của những sinh vật khác trong hệ sinh thái.
Can thiệp của con người hoặc phá hủy thế giới tự nhiên đặt ra mối đe dọa không chỉ đối với các sinh vật khác trong hệ sinh thái mà còn đe dọa đến sự sống của con người. Quan niệm Đại địa luân lí học làm thay đổi vai trò của nhân loại trong văn minh truyền thống phương Tây. Con người từ kẻ chinh phục, thao túng tự nhiên trở thành một thành viên trong đó. Con người cần phải có sự tôn trọng thích đáng đối với tất cả các thành viên thuộc giới hữu tình và vô tình, và cùng tồn tại với các loài vật khác hợp thành một cộng đồng rộng lớn, con người có nghĩa vụ trách nhiệm bảo vệ “cộng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 đồng sinh vật” được hài hòa, ổn định và đẹp đẽ.
Như vậy, đạo đức môi trường đã mở rộng ra từ quyền con người sang quyền của thiên nhiên. Cuối thế kỷ XX là thời kỳ phát động phong trào bảo vệ sinh thái. Bảo vệ sinh mệnh tự nhiên là xứ mệnh tiến bộ của nhân loại. Trở về với tư tưởng văn hóa phương Đông cổ đại là khuynh hướng quan trọng của phê bình sinh thái hiện nay.
Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được triết học, văn chương, mỹ thuật bàn đến cách đây hàng nghìn năm trước khi các nhà tư tưởng Trung Hoa xem con người mang bản chất của tự nhiên nên con người cần sống hòa hợp với tự nhiên, sống thuận theo tự nhiên. “Thiên nhiên hợp nhất” – tư tưởng Chu Dịch đã trở thành tiền đề cơ bản trong cách ứng xử, nguồn cảm hứng vô tận của văn chương phương Đông. Điều đó khẳng định sự thống nhất giữa con người với tự nhiên, con người là một phần của tự nhiên, giữa con người và tự nhiên có mối liên quan, dung hòa nhau: Khổng Tử yêu cầu tôn trọng, giữ gìn môi trường, mùa xuân vào rừng không được đốn cây lớn, bắt cá phải dùng mắt lưỡi to; Lão Tử cho rằng con người gắn với tự nhiên, là một bộ phận không thể tách rời tự nhiên: “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật”. Tự nhiên có trước con người, tồn tại và vận động theo quy luật khách quan, con người theo quy luật của tự nhiên để hành động cho hợp lẽ.
Bởi vậy, người phương Đông thường lựa chọn cách sống hài hòa với tự nhiên để được thanh thản và đầy đủ. Trong sử thi phương Đông còn có những bài học về sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên. Trong các tác phẩm sử thi của người Ấn Độ như: Ramayana, Mahabrahata. trước khi làm nhiệm vụ trị vì quốc gia, các vị anh hùng đều phải có thời gian tu thân trên núi cao, trong rừng thẳm để hòa mình vào thiên nhiên, tu trí, tĩnh tâm.
Trước khi trở thành đấng Giác Ngộ, đức Phật đã trải qua kiếp sống không chỉ là con người, thần linh mà cả là chim chóc, muông thú để cuộc đời của muôn loài bình thường,với đủ mọi quan hệ thế tục. Đức vua Trần Nhân Tông sau khi thực hiện xong việc thế sự, xuất gia vào núi sâu để được trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 sạch, giác ngộ tràn đầy. Thiên nhiên do đó là người thầy minh triết trong tâm thức người phương Đông. Không chỉ lấy chủ nghĩa sinh thái làm tư tưởng triết học nền tảng, phê bình sinh thái lấy thẩm mỹ sinh thái làm nguyên tắc chỉ đạo.
Nhà nghiên cứu Lý Khánh Bản cho rằng chủ trương của mỹ học sinh thái là thống nhất, hài hòa giữa con người với tự nhiên, con người và xã hội, cá nhân và xã hội chứ không phải là chiếm hữu, chinh phục và cải tạo tự nhiên, không chủ trương quan điểm lao động sáng tạo ra cái đẹp. Thẩm mỹ sinh thái là thẩm mỹ mang tính tự nhiên, trong thẩm mỹ sinh thái không tồn tại chủ thể - khách thể, con người cảm nhận tự nhiên, thiết lập quan hệ chủ thể tương giao với đối tượng thẩm mỹ. Chủ nghĩa nhân loại trung tâm coi đối tượng thẩm mỹ tự nhiên là phương tiện, biện pháp, kí hiệu, công cụ biểu hiện, tượng trưng cho thế giới nội tâm hoặc nhân cách con người. Các nhà phê bình sinh thái lại chủ trương không thể dùng con mắt công cụ để đối đãi đối tượng thẩm mỹ tự nhiên.
Thẩm mỹ sinh thái cũng đề cao tính chỉnh thể, không chỉ quan tâm đến đối tượng mà còn đặt nó trong hệ thống tự nhiên, từ đó khảo sát ảnh hưởng của nó đối với chỉnh thể sinh thái. Tiêu chuẩn đánh giá cái đẹp của thẩm mỹ sinh thái cũng khác so với truyền thống. Trong thẩm mỹ sinh thái, cái gì có lợi cho sự ổn định, hài hòa của hệ thống sinh thái mới được coi là đẹp. Trong mỹ học truyền thống, con người là chủ thể, là thước đo của cái đẹp, còn trong phê bình sinh thái, thước đo lại là chỉnh thể sinh thái.
Bên cạnh đó, thẩm mỹ sinh thái còn đề cao nguyên tắc dung nhập, yêu cầu tinh thần và thể xác nhập vào tự nhiên, hòa với tự nhiên làm một, có lúc phải quên đi bản ngã. Quên đi bản ngã để cảm nhận tự nhiên chính là một phương thức biểu hiện của thẩm mỹ sinh thái. Con người không thể phát hiện ra cái đẹp của tự nhiên nếu quá tự cao tự đại, chỉ có cảm nhận vô tư, không mục đích mới có thể cảm nhận được cái đẹp, cái kỳ thú của tự nhiên” [52]. Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng văn xuôi sinh thái Việt Nam từ sau 1975 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Những tiền đề lịch sử văn hóa xã hội Chiến tranh chống Mỹ kéo dài trong suốt 30 năm, súng ống, bom đạn, hóa học phóng xạ đã khiến: “ruộng đã khô, nhà đã cháy, thành phố tan hoang” (Trịnh Công Sơn). Chiến tranh dù đã qua đi nhưng để lại những tổn thất về môi trường dài lâu mà con người chưa thể khắc phục ngay được. Những nỗi đau về da cam hiện đang bào mòn nhiều thế hệ và ngấm ngầm tàn phá môi trường với những cánh rừng trơ trui, đất và nước bị nhiễm độc.Sinh thái hậu chiến tranh do vậy vẫn còn là một nỗi đau dai dẳng. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa cũng đã khiến cho môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái bị ô nhiễm trầm trọng bằng việc: con người tàn phá rừng để xây dựng thủy điện, khai thác khoáng sản, xả chất thải ra sông suối, ngày càng lạm dụng các chất hóa học.
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, con người đã xem thiên nhiên là thứ vô tri nên mặc sức khai thác nó, coi sự trả giá quá dễ, tác động vào nó mà không tính đến những hậu quả lâu dài về mặt môi trường. Sự tăng trưởng nóng đã khiến môi trường tự nhiên đang bị đe dọa, con người phải đối mặt với nhiều vấn đề của mặt trái văn minh đô thị với bao bộn bề ngổn ngang và làm tổn hại như: hiệu ứng nhà kính, chất thải công nghiệp.Hiểm họa sinh thái còn nảy sinh do thiếu ý thức, vì nguồn lợi mà con người đã bất chấp tất cả, vi phạm môi trường như xả thải bất hợp pháp ở các khu công nghiệp làm ô nhiễm nguồn nước như vụ Vedan xả chất thải chưa qua xử lí ra sông Thị Vải, vụ nhà máy Fomosa xả chất thải chưa qua xử lí ra biển khiến cả chết ở 4 tỉnh miền Trung, vụ ô nhiễm môi trường đất quá mức cho phép ở làng Đông Mai – Hưng Yên. Sự thay đổi chóng mặt vì đô thị hóa sẽ dẫn tới những vấn đề ô nhiễm môi trường của rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp.Ngoài ra, để mở rộng diện tích đô thị, các khu công nghiệp, mở rộng mạng lưới giao thông, mở rộng diện tích đất cho chăn nuôi đã khiến diện tích cây xanh bị thu hẹp lại. Ví dụ như ở Hà Nội, sự phát triển của đô thị đã xóa sổ nhiều làng nghề truyền thống ngàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 22 đời như lang hoa Ngọc Hà, làng cốm Vòng, lang rau húng ở Láng.
Hiện nay, ô nhiễm đô thị còn lan rộng đến cả những vùng quê, bằng chứng là những tiếng ếch nhái kêu, những loại rau khúc, rau dệu vốn rất quen thuộc với bà con nông dân nay cũng dần dần đi vào dĩ vãng. Sự mất dần của thiên nhiên trong đời sống hiện đại dễ khiến con người cảm thấy nuối tiếc, đau đớn, bất an hơn trước cái đương đại dang dở này. Biến đổi khí hậu, khủng hoảng môi trường sinh thái và những vấn đề toàn cầu hóa trở thành những áp lực rất lớn mà văn chương không thể bỏ qua.