Giáo Trình Vi Sinh Vật Học Phần 2: Các Quá Trình Lên Men

Giáo trình về vi sinh vật học phần 2, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Vi Sinh Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

100
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

5. CHƯƠNG 5: CÁC QUÁ TRÌNH LÊN MEN Ở VI SINH VẬT

5.1. Các kiểu hô hấp ở vi sinh vật

5.2. Con đường phân giải và tổng hợp gluxit

5.2.1. Con đường phân giải trước pyruvat

5.2.2. Sự chuyển hóa sau pyruvat

5.2.3. Sự tổng hợp cacbohydrat

5.3. Trình bày về sự trao đổi protein

5.3.1. Phân giải protein (lên men thối)

5.3.2. Sự tổng hợp protein

5.4. Giới thiệu khái quát về quá trình lên men rượu và lên men lactic

5.4.1. Định nghĩa và tác nhân lên men rượu

5.4.2. Cơ chế lên men rượu

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Các Quá Trình Lên Men Ở Vi Sinh Vật

Quá trình lên men ở vi sinh vật là một chủ đề quan trọng trong sinh học và công nghệ sinh học. Các quá trình này không chỉ giúp vi sinh vật tồn tại trong môi trường khắc nghiệt mà còn tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cho con người. Lên men có thể được chia thành nhiều loại, bao gồm lên men rượu và lên men lactic. Mỗi loại có cơ chế và ứng dụng riêng, từ sản xuất thực phẩm đến sản xuất năng lượng.

1.1. Định Nghĩa Và Phân Loại Các Quá Trình Lên Men

Lên men là quá trình phân giải các chất hữu cơ khi chất nhận electron là chất hữu cơ. Có hai loại chính: lên men yếm khí và lên men hiếu khí. Mỗi loại có đặc điểm và ứng dụng riêng trong sản xuất thực phẩm và năng lượng.

1.2. Vai Trò Của Vi Sinh Vật Trong Quá Trình Lên Men

Vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình lên men. Chúng không chỉ giúp phân giải các chất hữu cơ mà còn tạo ra các sản phẩm như rượu, acid lactic và nhiều hợp chất khác. Sự đa dạng của vi sinh vật cũng tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau.

II. Các Kiểu Hô Hấp Ở Vi Sinh Vật Thách Thức Và Giải Pháp

Hô hấp ở vi sinh vật có thể được chia thành hô hấp hiếu khí và hô hấp kị khí. Mỗi kiểu hô hấp có những thách thức riêng, đặc biệt là trong việc cung cấp năng lượng cho vi sinh vật. Việc hiểu rõ các kiểu hô hấp này giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất trong công nghiệp.

2.1. Hô Hấp Hiếu Khí Cơ Chế Và Ứng Dụng

Hô hấp hiếu khí là quá trình mà chất nhận electron cuối cùng là oxy. Quá trình này tạo ra năng lượng tối ưu cho vi sinh vật và được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất thực phẩm và năng lượng.

2.2. Hô Hấp Kị Khí Đặc Điểm Và Thách Thức

Hô hấp kị khí diễn ra khi không có oxy, chất nhận electron có thể là các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ. Thách thức lớn nhất là việc tối ưu hóa năng lượng sản xuất trong điều kiện thiếu oxy.

III. Phương Pháp Phân Giải Gluxit Ở Vi Sinh Vật

Quá trình phân giải gluxit là một phần quan trọng trong quá trình chuyển hóa năng lượng của vi sinh vật. Có ba con đường chính để phân giải gluxit: con đường EMP, HMP và Entner-Doudoroff. Mỗi con đường có những đặc điểm và ứng dụng riêng.

3.1. Con Đường EMP Đặc Điểm Và Ứng Dụng

Con đường EMP là quá trình chuyển hóa glucose thành acid pyruvic. Đây là con đường phổ biến nhất và có thể xảy ra trong cả điều kiện hiếu khí và kị khí.

3.2. Con Đường HMP Chức Năng Và Lợi Ích

Con đường HMP giúp tạo ra NADPH và các pentose cần thiết cho nhiều quá trình sinh tổng hợp. Đây là con đường quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho vi sinh vật.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Các Quá Trình Lên Men

Các quá trình lên men có nhiều ứng dụng thực tiễn trong đời sống hàng ngày. Từ sản xuất thực phẩm như rượu, sữa chua đến sản xuất năng lượng sinh học, các quá trình này đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.

4.1. Lên Men Rượu Tác Nhân Và Quy Trình

Lên men rượu là quá trình chuyển hóa glucose thành rượu etylic và CO2 dưới tác dụng của nấm men. Quy trình này đã được con người sử dụng từ lâu và hiện nay vẫn rất phổ biến.

4.2. Lên Men Lactic Ứng Dụng Trong Thực Phẩm

Lên men lactic là quá trình chuyển hóa glucose thành acid lactic. Quá trình này được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất sữa chua và các sản phẩm lên men khác.

V. Kết Luận Tương Lai Của Các Quá Trình Lên Men

Các quá trình lên men không chỉ quan trọng trong sinh học mà còn có tiềm năng lớn trong công nghiệp và nghiên cứu. Tương lai của các quá trình này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều ứng dụng mới, từ sản xuất thực phẩm đến năng lượng tái tạo.

5.1. Xu Hướng Nghiên Cứu Mới Trong Lên Men

Nghiên cứu hiện nay đang tập trung vào việc tối ưu hóa các quá trình lên men để tăng hiệu suất sản xuất và giảm chi phí. Các công nghệ mới như công nghệ sinh học đang được áp dụng.

5.2. Tương Lai Của Lên Men Trong Công Nghiệp

Lên men sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp thực phẩm và năng lượng. Sự phát triển của công nghệ sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho các quá trình này.

16/07/2025
Giáo trình vi sinh vật học phần 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chuong 5 CÁC QUÁ TRÌNH LÊN MEN Ở VI SINH VẬT Chương "Các quá trình lên men ở vi sinh vật" ưình bày các vấn đề sau: 1) Các kiểu hô hấp ở vi sinh vật: i/ hô hấp hiếu khí là quá trình hô hấp khi chất nhận electron cuối cùng là oxi phân tử; ii/ hô hấp kị khí là quá trình hô hấp khi chất nhận electron cuối cùng là chất vô cơ khác oxi, iii/ Lên men là quá trình phân giải các chất hữu cơ khi chất nhận electron là chất hữu cơ. 2) Con đường phân giải và tổng hợp gluxit: 1/ Con đường phân giải trước piruvat gồm con đường EMP, HMP và ED; 2 / Sự chuyễn hóa sau piruvat: Đối với hô hấp hiếu khí (acid pyruvic tiếp tục phân hủy qua chu trình krebs, còn NADH2 thực hiện chuỗi hô hấp để tạo ra H2 O và giải phóng ATP); Đối với lên men (acid pyruvic sẽ là chất nhận điện tử để tạo thành acid lactic hoặc rượu ethanol); 3 / Sự tổng họp cacbohydrate liên quan đến tổng họp glycogen, tổng họp levan và dextran. 3) Trình bày về sự trao đổi protein: i) Phân giải protein (lên men thối): Quá trình được thực hiện do hệ các enzyme ngoại bào như protease, peptidase đế phân giải protein, chuỗi peptíde ngắn và các acid amin; các acid amin tạo thành một phần được dùng đế tổng họp protein, một phần khác phân giải theo con đường đặc thù đế giải phóng N H 3, CO2 và các sản phẩm trung gian, ii) Quá trinh tổng họp protein được thực hiện trong cơ thể vi sinh vật do gen điều khiển. 4) Giới thiệu khái quát về quá trình lên men rượu và lên men lactic: gồm định nghĩa, tác nhân lên men, cơ chế lên men và ứng dụng của len men rượu và lên men lactic trong cuộc sống.

CÁC KIÊU HÔ HÁP Ở VI SINH VẬT Hô hấp hiếu khí là quá trình hô hấp khi chất nhận electron cuối cùng là oxi phân tử; Vi sinh vật thuộc dạng này gọi là vi sinh vật hiếu khí. Khi chất nhận electron cuối cùng là một cơ chất khác không phải là oxi phân tử, thỉ người ta gọi là quá trinh lên men hoặc có thể là quá trình hô hấp kị khí và vi sinh vật thực hiện các quá trinh này gọi là các cơ thể kị khí. Trong số các cơ thể kị khí, chất nhận electron có thể là chất hữu cơ hoặc chất vò cơ. Nếu chất nhận electron là chất hữu cơ người ta gọi là lên men, nếu chất nhận electron là chất vô cơ người ta gọi là hô hấp kị khí.

Hô hấp của một cơ thể hiếu khí là một quá trình vận chuyển electron và proton qua màng với oxi phân tử làm chất nhận electron cuối cùng, còn hô hấp kị khí dùng để chỉ một quá trình vận chuyển qua màng của các electron và proton đến chất nhận electron cuối cùng là một chất khác oxi phân tử, như nitrate trong trường hợp hô hấp nitrate, fumarate như hô hấp fumarate. Hô hấp được đặc trưng trước hết là nơi khu trú của chuỗi vận chuyển electron ờ màng tế bào chất đối với các cơ thể nhân sơ và ở màng trong của ti thể đối với các cơ thể nhân thực. Hô hấp còn đặc trưng ở bản chất của chất nhận electron cuối cùng là oxi phân tử. Sự oxi hóa cơ chất và đồng thời sự khử của oxi được thực hiện nhờ một chuỗi phản ứng enzyme, trong đó có sự tham gia của enzyme dehydrogenase và các coenzyme liên kết với nó.

Cơ chế thường thấy ở hô hấp là con đường của các xitocrom gián tiếp. Ngày nay, người ta hoàn toàn biết rõ thành phần và cơ chế hoạt động của các xitocrom này trong tế bào nhân thực và trong một số cơ thể nhân sơ. Bên cạnh quá trình phosphoryl oxi hoá cơ chất, còn tồn tại những con đường khác, đặc biệt là con đường oxi hoá trực tiếp nhờ các enzyme vận chuyển các electron từ cơ chất đến oxi phân tử để tạo thành H 2 O2 theo phương trình. fa d h 2 + o 2 F— fa d + h 2o 2 Hợp chất H 2 O 2 rất độc và cần được phân giải nhờ catalase, peroxidase hoặc superoxide dismutase tránh cho tế bào khỏi bị chết, quá trinh phân giải diễn ra theo phương trình sau: h 2o 2.

calalase ► HịO + 1 2 o 2 H;C>2 + 2H* + 2e' 2H ịO Những con đường này tạo rất ít hoặc không tạo năng lượng hữu ích. Một vi khuẩn không có enzyme trẽn, nhưng con đường phân giải trên buộc chúng phải sống kị khí bắt buộc, bời vì oxi phân tử là tác nhân gây độc với chúng. Có một số vi khuẩn chịu được hiếu khí như vi khuẩn Streptococcus, chúng không có catalase, nhưng có các enzyme ílavin (NAD-oxidase và NAD-peroxidase) cho phép chúng thực hiện sự cân bằng trong hô hấp ờ màng tế bào chất. Tùy thuộc vào số lượng và lượng các enzyme có thể phân giải H 2 O2 mà quyết định tính hiếu khí hay kị khí ở các vi khuẩn.

Lên men để chi sự có mặt của chuồi vận chuyển electron nằm trong tế bào chất, không có sự tự động đi qua của dòng electron hoặc proton ờ phần bên này và phần bên kia của màng tế bào (một dòng vận chuyển thứ cấp được thiết lập nếu cần thiết, nhờ năng lượng của ATP). v ề phương diện trao đổi năng lượng, đây cũng là một quá trình oxi hóa khử, nhưng chất nhận electron cuối cùng là các hợp chất hữu cơ, chứ không phải là các phân tử oxi. Quả trinh này cũng giải phóng năng lượng nhưng ít hơn nhiều so với quá trình hò hấp. CÁC CON ĐƯỜNG PHÂN GIẢI GLUXIT Ờ VI SINH VẶT 2.

Con đường phân giải trước pyruvat Ờ vi sinh vật có ba con đường phân giải glucose khác nhau là: Con đường Fructose-l, 6 -bisphotphat (còn gọi là con đường glycosyl, con đường EMP), con đường Pentose-photphate (còn gọi là hexomonophotphate; ký hiệu là HMP, là con đường oxi hóa trực tiếp glucose tạo ra NADH và các pentose) và con đường 2-xeto-6-photpho-gluconate (còn gọi là con đường Entner- Doudoroíĩ). Con đường phân giải EM P Đường phân là quá trinh chuyển hóa vật chất và năng lượng diễn ra trong tế bào để biến đổi từ một phân tử glucose (CeHnOí) thành hai phân tử acid pyruvic (CH3COCOOH) và hai coenzyme NADH + H7. Trong quá trình đuờng phân, phân tử glucose tự do không bị phân huỷ mà phân từ glucose đã được hoạt hóa thông qua việc gắn gốc photpho vào thành dạng đường phosphate đã được hoạt hỏa (Hình 16). Kết quả của đường phân có thể tóm tắt theo phương trình: CéH^Oé + 2NAD' + 2ADP + 2H3PO4 -> 2 CH 3 COCOOH + 2NADH+ÍT + 2ATP Đường phân là một quá trinh chuyển hóa vật chất không phụ thuộc vào nguồn oxi, tức là chúng có thể xảy ra dù môi trường có oxi hay không có oxi.

Quá trình này là con đường phổ biến nhất và chung cho cả hô hấp hiếu khí, hô hấp kị khí hay lên men. Chúng phần lớn xảy ra ở tế bào chất của tế bào. Quá trinh biến đổi này được các nhà khoa học Embden, Meyerhof và Pamas tìm ra nên được gọi là con đường phân giải EMP. Quá trình đường phân có thể chia thành hai giai đoạn chính là: (1) Giai đoạn "đầu tư" năng lượng: hai phân từ ATP sẽ bị phân hủy thành ADP (adenosine diphosphate) và Pi (nhóm phosphate PO 4 3' vô cơ).

(2) Giai đoạn "thu hồi" năng lượng: bốn phân tử ATP được sinh ra từ ADP và p, từ môi trường. Con đường phân giải HMP Con đường phân giải HMP bắt đầu với việc oxi hóa glucose- 6 P thành 6 P gluconat, sau đó 6 P gluconat được oxi hóa thành ribulose-5P, CO 2 và NADPH. Ribulose-5P được chuyển hóa thành các pentose khác như xilulose, ribose. Con đường HMP có một số chức năng sau: (1) NADPH tạo thành đóng vai trò như chất cho electron để khử các phân tử trong quá trinh sinh tổng hợp.

(2) Con đường này tổng hợp các phân tử đường bốn cacbon và đường năm cacbon cho nhiều mục đích khác nhau. Đường bốn cacbon erithrose 4P được sử dụng để tổng hợp các acid amin thơm và vitamin B 6. Ribose-5P là thành phần quan trọng của acid nucleic; ribulose-5P là chất nhận CO 2 chính trong quá trình quang hợp. (3) Các chất trung gian ờ con đường HMP có thể được dùng để tạo ATP.

Con đường Entner-Doudoroff Ở con đường này, thay bằng việc bị oxi hóa, 6 P-gluconat bị thủy phân tạo thành 2-xeto-3-deoxi-6P-gluconat (KDPG) - chất trung gian đóng vai trò then chốt trong con đường này. KDPG bị xúc tác bời KDPG aldolase để chuyển thành acid piruvic và glyceraldehit-3P. Glyceraldehit-3P bị chuyển thành acid piruvic tương tự giai đoạn 3 của đường phân. Bằng con đường này, từ 1 phân tử glucose sẽ thu được 1ATP, 1 NADPH+H" và 1 NADH+H".

Con đường Entner-Doudoroff được tìm thấy ờ vi khuẩn Pseudomonas, Rhìzobium, Aioiobacter, Agrobacterium và một số vi khuẩn gram âm. G lucose Ị Glucose 6P (2 ) ị Fnjcioíe -6P ATP A.6 diP (6 ) Ị n * 'N A D H 2A , S PG 'ADP A. 2 AEP (11) i Ị I X Pynnic I Hình 16. Sơ đồ đườiigphân trong hô hấp hiếu khí (EMP') PDA: dihydroxyl aceton photphate; ALPG: glyceraldehyde 3 photphate; A1.3PG: l,3di P-glyceric; A3PG: 3P-glyceric; A2PG: 2P-glyceric; APEP: P-enol piruvic.

Sự chuyển hóa sau piruvat Trong hô hấp hiếu khí: Acid pyruvic tiếp tục bị oxi hóa hoàn toàn đến CO 2 , H 2 O và giải phóng toàn bộ năng lượng còn lại qua chu trình Krebs. Hai phân tử NADH 2 thực hiện chuỗi hô hấp để tạo ra H 2 0. Phản ứng này kèm theo việc tổng hợp được 6 ATP qua quá trình phosphoryl hóa. 2NAD+H' + 0 2 — 2NATT + 2H20 Kết quà của đường phân trong hô hấp hiếu khí là: C6 H 1206 + 0 2 — 2 CH 3 COCOOH + 2 H A đồng thời tạo 8 ATP.

Kết quả của hô hấp hiếu khí là: C6H ,20 6 + 6O2 — 6CO2 + 6HjO + 36 ATP. Trong hô hấp kị khí: Acid pyruvic được tạo thành sẽ không bị oxi hóa hoàn toàn qua chu trinh Krebs, thay vào đó acid pyruvic sẽ được các nhóm vi sinh vật thực hiện các quá trinh lên men khác nhau. Hai phân tử NADH 2 sẽ được dùng để khử CH 3 COCOOH (trong lẽn men lactic) hay khử CH 3 CHO (trong lên men rượu) nên không thực hiện chuỗi hô hấp. Phương trình lên men lactic như sau: 2 CH 3 COCOOH + 2 NADH 2 — 2 CH 3 CHOHCOOH + 2NAD+.

Kết quả của đường phân trong hô hấp kị khí tạo ra 2 acid piruvic, 2ATP 3. S ự TỎNG HỢP CACBOHYDRAT Vi sinh vật có khả năng tổng hợp các oligo và polysaccharide.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ