Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1. Vài nét về Đồng bằng sông Cửu Long 1. Địa lí và lịch sử khai phá Đồng bằng sông Cửu Long * Về địa lí: Vùng đất Nam Bộ có diện tích hơn 63.277,2 Km², nằm ở phía nam của Việt Nam thuộc hạ lƣu sông Mê kong. Do đặc điểm cấu tạo nên Nam Bộ đƣợc chia làm hai miền: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Đồng bằng sông Cửu Long còn gọi là vùng Đồng bằng Nam Bộ hoặc miền tây Nam Bộ hoặc theo cách gọi của ngƣời dân miền Nam ngắn gọn là Miền Tây. Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 40.548,2 Km², dân số trong vùng là 17.900 ngƣời, có 12 tỉnh và một thành phố trực thuộc Trung Ƣơng: An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long. Tây Nam Bộ có địa hình đồng bằng tƣơng đối thấp, bằng phẳng, vùng đất đƣợc bồi tụ phù sa của sông Cửu Long nên đất đai màu mỡ phì nhiêu, Đồng bằng sông Cửu Long còn là trung tâm nông nghiệp, vựa lúa lớn nhất cả nƣớc, khí hậu tƣơng đối mát mẻ, điều hòa. Một năm chỉ có hai mùa: mùa mƣa và mùa nắng.
Nhắc đến Đồng bằng sông Cửu Long cũng là nói về một vùng sông nƣớc.500 Km sông tự nhiên, 3.000 km kinh đào, khoảng 150 cù lao trên sông. Đồng bằng sông Cửu Long có vùng đất ngập nƣớc đa dạng sinh học nhất Châu Á trải từ U Minh Thƣợng đến Mũi Cà Mau. Đồng bằng sông Cửu Long còn có hệ thống núi đá vôi Kiêng Lƣơng (Kiên Giang) nhƣ thành lũy thiên nhiên phía Tây Nam Tổ quốc, đảo Phú Quốc (Kiên Giang) đẹp và lớn nhất Việt Nam, hệ thống rừng ngập mặn ven biển, rừng gỗ lớn thƣờng xanh ở Phú Quốc, rừng rụng lá theo mùa ở An Giang, rừng chồi bụi trên núi đá vôi ở Kiên Lƣơng. Đặc biệt sông còn là đƣờng giao thông quan trọng trong việc đi lại và vận chuyển hàng hóa của ngƣời dân nơi đây.
Đặc điểm nổi bật của Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi chằng chịt. Ngoài hệ thống sông Cửu Long, nơi đây còn có hệ thống sông nhỏ đổ ra Vịnh Thái Lan: “Trên vùng đất này, những con sông, con kênh, con rạch đan xen vào nhau, uốn quanh những vườn cây sum suê, trĩu quả, những cách đồng mênh mông cò bay thẳng cánh.5] Bên cạnh những dòng chảy tự nhiên, con ngƣời còn “khai mương” làm vƣờn, đào kênh xả phèn cho ruộng, môi trƣờng sông nƣớc đã sản sinh ra nền “văn minh kênh gạch”. Do có nhiều dòng chảy nên giao thông đƣờng thủy là hệ thống quan trọng của nhân dân từ buổi đầu khai hoang cũng nhƣ 7 trong suốt mấy thế kỷ qua. Sinh hoạt trên sông nƣớc của họ chủ yếu gắn liền với ghe, xuồng.
Từ chiếc xuồng ba lá buổi đầu đến chiếc vỏ lãi máy đuôi tôm là cả một quá trình lao động, sáng tạo. Hầu hết cuộc sống cƣ dân nơi đây gắn liền với chiếc ghe (ghe làm nhà ở, ghe bán hàng, ghe đi làm thuê, ghe làm phƣơng tiện chăn nuôi,…). “Chèo ghe đi bán cá vồ, Nước chảy ồ ồ chẳng có ai mua” [28;tr.321] Ở Đồng bằng sông Cửu Long ngƣời ta còn nhắc đến văn minh gắn liền với cây trái, ruộng đồng sông nƣớc, đó là văn minh miệt vƣờn. Vƣờn ở đây xuất hiện tƣơng đối sớm và phát triển khá mạnh.
Vƣờn ở Đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn và trồng cây chuyên canh quanh năm nhƣ Xoài Cao Lãnh – Đồng Tháp, cam Long Tuyền – Cần Thơ… “Hòa An phong cảnh mơ màng, Có vườn mận đẹp, có làn nước xanh” [28;tr.318] Công việc làm vƣờn đòi hỏi con ngƣời sáng tạo mà kinh nghiệm của dân ruộng không thể làm đƣợc. Ngƣời ta phải đắp bờ quanh cù lao ngăn nƣớc, khai mƣơng lên liếp rồi đến kỹ thuật ƣơm cây, chiết cành. Công việc này diễn ra quanh năm nhƣng lại không chịu sự thúc bách của thời vụ nhƣ làm ruộng khiến cuộc sống trở nên khoan thai, con ngƣời trở nên điềm đạm, thanh thản hơn. Về mặt đơn vị cơ sở của tổ chức xã hội, làng ngƣời Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều đặc điểm khác với làng ở Bắc và Trung Bộ.
Nếu làng ở Bắc Bộ có tính khép kín thì làng ở Đồng bằng sông Cửu Long lại có tính chất mở, hầu hết cƣ dân sinh sống trên các trục kênh mƣơng hay trục giao thông tiện bề đi lại cũng nhƣ mua bán trao đổi hàng hóa. Nếu làng Bắc Bộ có sự phân biệt giữa dân chính cƣ và dân ngụ cƣ nhằm duy trì sự ổn định của cộng đồng thì làng ở Đồng bằng sông Cửu Long lại không có sự phân biệt này, cƣ dân ở Nam Bộ sẵn sàng đến bất kỳ nơi nào có thể đáp ứng đƣợc đời sống vật chất và tinh thần cho họ. Con ngƣời ở đây thƣờng hƣớng tới cái “nghĩa”, vì thế tính cách của con ngƣời Nam Bộ hào phóng và lòng hiếu khách, thái độ bộc trực và tinh thần trọng nghĩa khinh tài. Thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với các khu công nghiệp, các trƣờng Đại học, có nhiều điểm du lịch nổi tiếng nhƣ: Bến Ninh Kiều, Chợ nổi Cái Răng, … thu hút khách du lịch trong và ngoài nƣớc đến tham quan.
Đây là trung tâm buôn bán trao đổi hàng hóa và là “thủ phủ” của Miền Tây. 8 “Cần Thơ gạo trắng nước trong Đậm tình non nước gợi lòng khách du” [4;tr.134] * Lịch sử khai phá: Trƣớc thế kỷ XVII, Đồng bằng sông Cửu Long còn là một nơi hoang dã. Vùng đất này còn ngủ yên trong vẻ hoang sơ u tịch với số dân bản địa ít ỏi và thƣa thớt. Quang cảnh thiên nhiên hoang sơ chỉ có những bụi mây dài, cây to, cát vàng, lau sậy trắng, cây cối um tùm, rễ phụ thòng xuống bám đất, tàng cây che tối om làm thành hang cho cọp sinh sống.
Tre gai mọc rất nhiều gần nhƣ thành rừng; lúa ma, lau trắng sậy đế mọc khắp nơi, … cảnh vật hoang sơ, độc địa: “Muỗi kêu như sáo thổi Đỉa lội tợ bánh canh Cỏ mọc thành tinh Rắn đồng biết gáy” [23;tr.28] Hay “U Minh, Rạch Giá thị quá Sơn Trường Dưới sông sấu lội trên bờ cọp um” [28;tr.320] Muôn thú sống thích ứng với cảnh hoang dã. Loài cọp quen uống nƣớc suối, dạo chơi quanh sƣờn núi, xuống đây phải làm quen với hoàn cảnh sống mới: uống nƣớc bùn, lội bì bõm trên sình lầy, không có hƣơu nai để ăn phải ăn cá thòi lòi, ăn cua, bơi lội vụng về nhƣ chó từ bờ sông qua cù lao để rình mồi giữa bụi dừa nƣớc. Loài cá sấu sống ung dung hơn. Loại sấu lửa màu vàng đen, lớn bằng chiếc ghe tam bản, rất dữ.
Nó thƣờng dùng đuôi đập vào con ngƣời, ngƣời ngã xuống sông bị cá sấu nuốt. Voi đi từng bầy, dặm đất sình, phá phách vƣờn tƣợc, hoa màu. Heo rừng, trâu rừng sống theo bầy tàn phá rất lớn đối với cây trái; Rắn sinh sôi nảy nở rất nhanh vì sống phù hợp với khí hậu ẩm thấp vùng rừng nhiệt đới; Khỉ sống thành từng bầy, kêu hú vang dội ven sông rạch trong rừng. Miền nhiệt đới, khí hậu ẩm thấp là thiên đƣờng của côn trùng và vi trùng nhƣ muỗi, đỉa, vắt, mọt, mối, kiến,… Muôn vật nhƣ bao trùm lên một cảnh hoang sơ bí hiểm khiến con ngƣời càng trở nên nhỏ bé làm cho họ có tâm trạng lo sợ trƣớc cảnh vật lạ lùng.
Chính điều này làm cho con ngƣời phải có cách ứng xử để thích ứng với môi trƣờng sống mới, để có thể tồn tại và phát triển. “Tới đây xứ sở lạ lùng Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê” 9 Hay: “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma” [4;tr.134,153] Công cuộc khai hoang ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và Nam Bộ nói chung đƣợc tiến hành có quy mô bắt đầu từ thế kỷ XVII. Vào năm 1698, Nguyễn Hữu Kỉnh đƣợc lệnh vào Nam lập phủ Gia Định. Thành phần những ngƣời vào Nam khai phá khá phức tạp.
Những ngƣời có tiền của vào Nam theo chế độ của nhà Nguyễn, họ thuê mƣớn nhân công lao động, khai phá theo kiểu điền chủ lớn, kiểu nông trại theo lối quảng canh, việc khai hoang có nhiều thuận lợi. Những ngƣời nghèo đi riêng lẻ, họ là những ngƣời trốn khỏi vòng thiết chế phong kiến khắc nghiệt ở vùng ngoài, đi tìm vùng đất mới để sinh cơ lập nghiệp. Những ngƣời lính thú, tội đồ bị đƣa vào Nam lập các đồn điền trấn giữ biên ải. Lúc đầu làm ăn theo lối quảng canh vì đất rộng ngƣời thƣa, mà không có cơ giới, họ phải dùng sức ngƣời là chính, nên một năm làm ruộng một mùa, không bón phân, cũng không tận dụng đất, nơi nào thuận thì làm, không thuận thì bỏ hoang.
Thay đổi nghề nhanh chóng, nguồn lợi tự nhiên dồi dào nhƣ bắt cá đồng, cá biển, đốn củi, nghề câu cá sấu,… thu lợi nhanh hơn làm ruộng. Với việc thay đổi thành phần xã hội khá nhanh, ngƣời giàu có đứng ra làm chủ, mƣớn nhân công, phá sản lại trở về làm công. Về canh tác, trong tình hình lúc bấy giờ, khai thác trên diện tích rộng, ngƣời dân sớm thích nghi với điều kiện thời tiết: khí hậu nhiệt đới với hai mùa mƣa nắng rõ rệt là môi trƣờng cho sinh vật phát triển. Về thổ nhƣỡng, tùy theo đất mà cày hoặc không cày.
Ở những nơi đất nhiều phù sa dọc hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu làm theo lối phát cỏ đến đâu cấy đến đấy, thu hoạch đƣợc nhiều. Có nơi phải cày trâu nhƣ ở Vàm Cỏ, Xoài Rạp, … Có nơi đất xấu khó làm ruộng đƣợc nhƣ ở Hà Tiên, Cà Mau. Về kinh tế làm theo kiểu kinh tế hàng hóa. Những kho hàng Cù Lao Phố, rồi Chợ Lớn, kho hàng Hà Tiên, Mỹ Tho, Bài Xãi (Sóc Trăng) hoạt động thƣờng xuyên nhờ hệ thống chân rết.
Nguyên tắc của tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn là bế quan tỏa cảng. Vua quan nắm quyền ngoại thƣơng rồi ủy thác cho thƣơng gia ngƣời Hoa. Nhờ yêu cầu của thị trƣờng rộng lớn, ngƣời khẩn hoang bƣớc đầu đƣợc khích lệ, tạo ra nguồn hàng dồi dào, bảo đảm cạnh tranh về chất lƣợng. Nhƣ năm 1825, đời Minh Mạng có nhiều thuyền chở gạo vào chợ Hà Tiên.
Đây là nơi ít ruộng, nhà vua đƣa ra chủ trƣơng đánh thuế nhẹ để khuyến khích sự trao đổi buôn bán. Cụ thể thuyền Xiêm chở 8/10 gạo trở lên thì hoàn toàn miễn thuế; chở 5/10 miễn 7/10 thuế.