phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, Phần nội dung luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN Chƣơng 2: HỆ THỐNG ẨN DỤ Ý NIỆM TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG CA DAO NGƢỜI VIỆT Chƣơng 3: GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC BIỂU THỨC NGÔN NGỮ ẨN DỤ Ý NIỆM TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TIÊU BIỂU TRONG CA DAO NGƢỜI VIỆT 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái quát về ẩn dụ 1. Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống Ẩn dụ là một trong những phƣơng diện nghiên cứu quan trọng của ngôn ngữ học. Từ thời cổ đại, ẩn dụ đã đƣợc các nhà ngôn ngữ nghiên cứu theo nhiều phƣơng hƣớng khác nhau dựa theo quan điểm dụng học, quan điểm thay thế,… Xét theo điểm chung của các quan niệm thì ẩn dụ đƣợc các nhà ngôn ngữ học truyền thống nghiên cứu trên hai phƣơng diện cơ bản: phƣơng diện thứ nhất là biện pháp tu từ; phƣơng diện thứ hai là phƣơng thức chuyển nghĩa.
Theo cách hiểu của quan niệm truyền thống thì ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi của hai sự vật, hiện tƣợng dựa vào nét tƣơng đồng về một đặc điểm nào đó nhƣ hình thức, trạng thái, tính chất,… Một trong những ngƣời đi đầu nghiên cứu về ẩn dụ là Aristotle cho rằng“Ẩn dụ là phƣơng thức chuyển đổi tên gọi” [2, tr58]. Theo cách hiểu của ông, ẩn dụ là một phƣơng thức chuyển nghĩa dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có điểm tƣơng đồng nào đó. Chính vì vậy, Aristotle đã trở thành ngƣời khởi nguồn cho một xu hƣớng nghiên cứu mới về ẩn dụ. Trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, O.Akhmanova định nghĩa ẩn dụ là phép chuyển nghĩa (Trop) dùng các từ ngữ và ngữ ở ý nghĩa bóng trên cơ sở tương tự, sự giống nhau…: Với Y.Xtepanop, ông cho rằng: “Khi một từ tuy vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ nhƣng lại có thêm một sự liên hệ mới với cái biểu vật mới, thì hiện tƣợng ngôn ngữ đó gọi là ẩn dụ” [16, tr32].
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng có quan điểm tƣơng tự khi nghiên cứu về ẩn dụ. Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật này bằng tên của một sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tƣơng đồng” [3, tr. Sau này, trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, ông đã giải thích cụ thể hơn: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật. A vốn là tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính của A).
Phƣơng thức ẩn dụ là phƣơng thức lấy tên gọi A của x để gọi tên Y (để biểu thị Y), nếu nhƣ X và Y có nét nào đó giống nhau” [4, tr145]. Cùng quan điểm về sự tƣơng đồng trong ẩn dụ, Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tƣợng đƣợc so sánh với nhau” [11, tr162]. Với tác giả Nguyễn Đức Tồn, ông quan niệm “bản chất của ẩn dụ là sự thay thế tên gọi dựa trên sự đồng nhất hóa các sự vật, hiện tƣợng, tính chất… khi tƣ duy liên tƣởng của con ngƣời phát hiện ra chúng ít nhất cùng có một nét hay một đặc điểm nào đó” [50,tr. Chính vì vậy mà ông định nghĩa nhƣ sau: “Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng này sang sự vật, hiện tƣợng 9 thuộc loại khác theo lối loại suy dựa trên cơ sở sự liên tƣởng đồng nhất hóa hóa chúng theo đặc điểm thuộc tính nào đó cùng có ở chúng.
Với Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học tiếng Việt các tác giả cho rằng: Ẩn dụ thực chất là sự so sánh ngầm, trong đó vế so sánh giảm lƣợc đi chỉ còn lại vế đƣợc so sánh [23]. Và còn một số nhà nghiên cứu khác tiêu biểu nhƣ Cù Đình Tú, Hữu Đạt, Đào Thản,… cũng có cùng quan điểm với các nhà nghiên cứu trên, có thể cách diễn đạt khác nhau nhƣng về bản chất của ẩn dụ theo quan điểm truyền thống là giống nhau. Tóm lại, theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học truyền thống, bản chất ẩn dụ gồm có hai phần: cái đƣợc so sánh (the tenor) và cái so sánh (phƣơng tiện so sánh – vehicle). Cái đƣợc so sánh là chủ thể đƣợc gán vào nó những thuộc tính, tính chất của cái so sánh.
Còn cái so sánh là chủ thể mà những thuộc tính, tính chất của nó bị vay mƣợn. Có thể nói, ẩn dụ đƣợc sử dụng giống nhƣ một trong những công cụ làm đẹp bậc nhất trong văn chƣơng. Hay nói cách khác, ẩn dụ chính là một biện pháp tu từ mà thông qua nó, ngƣời đọc có thể cảm nhận đƣợc cái hay, cái đẹp của văn chƣơng. Tuy nhiên, khi ẩn dụ đƣợc nhìn nhận, đánh giá dƣới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận ngƣời đọc còn thấy đƣợc sự mở rộng các nét nghĩa, sự mở rộng về mặt tƣ duy, sự giao thoa văn hóa… 1.
Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận khác với ẩn dụ theo quan điểm truyền thống. Ẩn dụ tri nhận xem ẩn dụ nhƣ một sự lệch chuẩn khỏi cách sử dụng ngôn ngữ bình thƣờng hàng ngày, và để hiểu đƣợc ẩn dụ thì phải thông qua các quá trình đặc biệt. Việc thuyết giải ẩn dụ phải đƣợc thực hiện thông qua ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen, vì thế, theo quan niệm truyền thống, ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen có vai trò to lớn hơn so với ngôn ngữ mang tính ẩn dụ. Hai nhà ngôn ngữ học tri nhận nổi tiếng Lakoff và Johnson (1980, 1999) lại nhìn nhận và nghiên cứu ẩn dụ thông qua các lĩnh vực kinh nghiệm và cho rằng ẩn dụ là hiện tƣợng tri nhận hơn là một hiện tƣợng ngôn ngữ.
Những biểu thức ẩn dụ mà chúng ta bắt gặp trong ngôn ngữ chính là cái phản ánh các ẩn dụ tồn tại ở tầng bậc ý niệm. Ẩn dụ không còn giới hạn ở phép dùng từ hình ảnh, so sánh mà xa hơn thế, ẩn dụ phản ánh phƣơng thức tƣ duy sáng tạo của con ngƣời qua hệ thống các ý niệm, vì vậy Lakoff và Johnson gọi nó bằng thuật ngữ “Ẩn dụ ý niệm”. Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm - cognitive metaphor - conceptual metaphor) là một lĩnh vực đã đƣợc nghiên cứu từ rất lâu bởi một số học giả nhƣ Kant, Blumenberg và Weinrich. Đến những năm 80 của thế kỉ XX, cùng với sự kế thừa và phát triển thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trƣớc, công trình “Metaphors We Live By” của Lakoff và Johnson xuất hiện trở thành xƣơng sống cho các nhà ngôn ngữ học tri nhận, tạo nên một trào lƣu tri nhận phát triển rộng trên khắp thế giới.
Ẩn dụ đã đƣợc công nhận thuộc phạm trù tƣ duy, là một thao tác tinh thần giúp con ngƣời nhận thức 10 và hiểu biết về hiện thức khách quan sinh động. Ẩn dụ tri nhận là “Một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận đƣợc tri thức mới… Ẩn dụ đƣợc xem nhƣ là cách nhìn một đối tƣợng này thông qua một đối tƣợng khác, và với ý nghĩa đó, ẩn dụ là một trong những phƣơng thức biểu tƣợng tri thức dƣới dạng ngôn ngữ” [5, tr293-294]. Nhờ phƣơng thức ẩn dụ, con ngƣời nhận biết thế giới bao gồm thế giới vật chất, thế giới tinh thần và thế giới cảm xúc. Ẩn dụ gắn liền với đặc trƣng văn hóa tinh thần của ngƣời bản ngữ.
Với các luận điểm nhƣ trên, bản chất của ẩn dụ đƣợc nhận thức theo quan điểm tri nhận có bản chất hoàn toàn khác so với cách nhận thức ẩn dụ theo quan điểm truyền thống. Và ẩn dụ thƣờng gặp không những trong các tác phẩm văn học mà còn trong các ngành khoa học khác nhƣ triết học, luật pháp, tâm lý học, nhận học,…nó rất hiệu quả đối với việc thể hiện tình cảm của con ngƣời trong giao tiếp hằng ngày. Ý niệm Trong ngôn ngữ học tri nhận, các nhà nghiên cứu đều coi ý niệm (concept) là đơn vị cơ bản của tính tinh thần. Tức là, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới đƣợc phản ánh trong tâm lí con ngƣời.Xtepanov giải thích ý niệm nhƣ sau: “Ý niệm tựa nhƣ một khối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con ngƣời; dƣới dạng của nó nền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tƣ duy) của con ngƣời và mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con ngƣời - ngƣời bình thƣờng không phải là “ngƣời sáng tạo ra những giá trị văn hóa” – chính con ngƣời đó đi vào văn hóa và trong một số trƣờng hợp nhất định có tác động đến văn hóa” [15,tr.
Nói nhƣ vậy, ý niệm ở đây đƣợc hiểu không chỉ là vấn đề tri thức. Ý niệm chi phối các chức năng hoạt động hàng ngày cho đến những chi tiết tầm thƣờng nhất. Và cũng từ đó, ngƣời tiếp xúc với ý niệm sẽ hiểu đƣợc văn hóa trong các mô hình ý niệm cụ thể. Đó chính là quá trình con ngƣời đi vào văn hóa, và trong một số trƣờng hợp nhất định có tác động đến văn hóa.
Từ quan niệm then chốt này, những khái niệm khác của tri nhận nhƣ: khung tri nhận, mô hình tri nhận, phạm trù và điển dạng, không gian tinh thần … mới đƣợc xác định. Trong Ngôn ngữ học tri nhận: Từ điển, tường giải và đối chiếu, tác giả Trần Văn Cơ cũng khẳng định rằng, ý niệm là “một mảng của thế giới do con ngƣời cắt ra bằng “lƣỡi dao ngôn ngữ” để nhận thức” [8, tr. Việc cắt thế giới ra thành từng mảng đƣợc gọi là ý niệm hóa. Việc ý niệm hóa thế giới cho con ngƣời những “bức tranh thế giới” không giống nhau do sự chi phối của các cộng đồng ngƣời và những nền văn hoá khác nhau.
Nói nhƣ vậy, Trần Văn Cơ cho rằng ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lý của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới đƣợc phản ánh trong tâm lý con ngƣời. Trong quá trình tƣ duy, con ngƣời dựa vào các ý niệm để mã hóa thông tin của hoạt động 11 nhận thức thế giới của con ngƣời dƣới dạng “những lƣợng tử” của tri thức.