CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Quan hệ văn hóa – văn học và hướng nghiên cứu văn hóa – văn học 1. Quan hệ văn hóa- văn học Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa, “văn học” là nghệ thuật dùng ngôn ngữ và hình tượng để thể hiện đời sống và xã hội con người [Viện Ngôn Ngữ Học 2003: 1100] Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người. Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ.
Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ. Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống. Nói như Maxim Gorki, “Văn học là nhân học”.
Còn theo Jean-Paul Sartre, trong cuốn Văn học là gì? (1948), “Về nguyên tắc, nhà văn hướng tới tất cả mọi người”, “Về bản chất, văn học là tính chủ quan của một xã hội luôn luôn vận động”. Văn học là cái gì đó rất đỗi gần gũi với con người, giúp phát triển nhân cách con người, giúp người hiểu người hơn. Văn học xuất phát từ con người, và dù nó có bay cao, bay xa, dù có thăng hoa đến đâu cũng hướng đến con người. Trong quyển Xã hội học Văn hóa, tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có.
Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa. [Đoàn Văn Chúc, 1997] Cũng trong tập sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm lại đưa ra một khái niệm: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. [Trần Ngọc Thêm 2006] Trang 12 Như vậy có thể nói rằng, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Hay nói một cách tổng quát, văn hóa là những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần của con người.
Về mối quan hệ văn hóa – văn học, nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy nhận định rằng, trước đây, quan hệ văn hóa và văn học được coi là quan hệ tương hỗ, đây là thứ quan hệ ngang bằng của hai hình thái ý thức xã hội cùng thuộc thượng tầng kiến trúc, cùng phản ánh một cơ sở hạ tầng. Bởi thế, nghiên cứu văn hóa thì văn học được coi như một nguồn tài liệu, còn nghiên cứu văn học thì lại tìm thấy ở nó những chủ đề văn hóa, cũng là một kiểu tài liệu. Do đó, văn hóa và văn học làm tài liệu nghiên cứu cho nhau. Có thể nói rằng, gần đây, quan hệ văn hóa và văn học được chú ý nhiều hơn, văn hóa bắt đầu được coi là nhân tố chi phối văn học.
Ngày nay, hẳn ai cũng thừa nhận văn hóa là một tổng thể, một hệ thống, bao gồm nhiều yếu tố trong đó có văn học [Đỗ Lai Thúy 2009: 57-59]. Văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận. Vì vậy, nhiều giá trị văn học đã được hình thành trên cơ sở các giá trị của văn hóa. Mikhail Bakhtin trong những suy ngẫm về nghiên cứu văn học, ông luôn cho rằng “văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa và không thể hiểu nó bên ngoài bối cảnh văn hóa tổng thể của một thời đại cụ thể ”; tác giả cũng nhấn mạnh “đời sống năng động và mạnh mẽ của văn hóa diễn ra ngay trên những đường biên những lĩnh vực riêng của nó chứ không phải ở những nơi tập trung những đặc trưng riêng của từng lĩnh vực” [Nguyễn Văn Hiệu (dịch) 2007: 20].
Nói đến vị trí của văn học trong văn hóa là nói đến hai mặt của một vấn đề. Thứ nhất, bản thân văn học trong văn hóa là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi phối mang tính quyết định của văn hóa. Thứ hai là nói đến tính đại diện cho văn hóa của văn học, sự tác động tích cực trở lại của văn học đối với văn hóa [Đỗ Thị Minh Thúy 1997: 100]. Khi đặt văn học vào ngữ cảnh của văn hóa để nghiên cứu, tác giả Cao Kim Lan viết rằng “Theo tôi một phương pháp phê bình thống nhất những yếu tố khả thủ của hai xu hướng này, nghĩa là phải đặt tác phẩm văn học vào ngữ cảnh văn hóa đồng thời vẫn phải thừa nhận/tìm kiếm trong bản thân nó “một cái gì đó” sẽ là một hướng đi có khả năng tạo ra những cách nhìn mới” [Cao Kim Lan: Văn học và ngữ cảnh văn hóa, http://vanhocquenha.
Trang 13 Phan Ngọc trong Một cách tiếp cận văn hóa khi nghiên cứu văn học giai đoạn 1975-1985 viết: “Nếu ta chấp nhận văn học là một thành tố của văn hóa, thì muốn xét văn học Việt Nam, phải xét nó trên một nền tảng vững chắc hơn là văn hóa Việt Nam” [Phan Ngọc 1999: 301]. Như vậy, các quan niệm có khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm đó là khẳng định mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết giữa văn học và văn hóa. Nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hóa, và ngược lại, nghiên cứu văn hóa trong mối quan hệ với văn học đều đưa lại những kết quả thú vị mà ở đó các giá trị văn hóa hay văn học đều được làm nổi bật trong sự thống nhất với nhau. Người ta có thể nghiên cứu văn hóa từ văn học, ngược lại, cũng có thể phê bình văn học từ văn hóa.
Đây là một phương pháp có nhiều thuận lợi bởi người ta đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, cái biết nhiều đến cái biết ít, cái toàn thể đến cái bộ phận bằng con đường loại suy. Đỗ Lai Thúy đã sử dụng thao tác này trong công trình Con mắt thơ. Ông coi Thơ Mới là sản phẩm của văn hóa đô thị và đi tìm đặc điểm của văn hóa đô thị qua các phạm vi không gian, thời gian, con người… một mặt để khu biệt với văn hóa nông thôn, mặt khác để làm nền cho bức tranh văn học bấy giờ. Bàn về mối quan hệ tương tác giữa văn hóa học và văn học, có nhà nghiên cứu cho rằng: “Văn học hiện thân như là một phương diện trung tâm của những mặt vật chất của văn hoá hoặc là của những hình thức biểu đạt trung gian mà qua đó văn hoá trở nên có thể quan sát được” [Nguyễn Tri Nguyên 2010: 115].
Như vậy, rất nhiều nhà nghiên cứu dựa vào văn học truyền miệng để đi tìm lịch sử văn hóa qua huyền thoại, do đó, giữa văn học và văn hóa học rõ ràng có mối quan hệ tương tác rất lớn. Từ văn học dân gian, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra ký ức văn hóa của dân tộc, diện mạo văn hóa dân tộc một thời đã qua. Dù là ở hình thức nào, giữa văn học và văn hóa đều có sự tương tác chặt chẽ với nhau. Cũng như thế, Huỳnh Như Phương trong bài nghiên cứu Văn học và văn hóa truyền thống cho rằng văn học biểu hiện văn hoá, văn học phản ánh văn hóa.
Ông chứng minh rằng trong tác phẩm văn học, người đọc có thể tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn. Ngược lại, theo tác giả, văn hoá cũng tác động mạnh mẽ đến văn học. Sự tác động ấy không chỉ thể hiện ở đề tài mà còn ở toàn bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn. Bản thân nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hoá.
Chính không gian văn hoá Trang 14 này chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác [Huỳnh Như Phương 2009: 20-28]. Như vậy, rõ ràng nghiên cứu văn hóa từ văn học là một việc làm có cơ sở khoa học. Văn học là một bộ phận của văn hóa và văn học thể hiện các giá trị của bản sắc văn hóa. Văn học phản ánh hầu hết các lĩnh vực của đời sống trên nền bản sắc văn hóa dân tộc và như thế tiếp cận văn học là một cách để giúp ta hiểu thấu đáo và sâu sắc văn hóa của đời sống đó.
Hướng nghiên cứu văn hóa – văn học Trong đời sống văn hóa tinh thần của nhiều tầng lớp nhân dân, văn học dân gian chiếm một vị trí khá quan trọng. Quan trọng, bởi nó không chỉ đóng vai trò là cơ sở, là nền tảng để phát triển nền văn học hiện đại, mà qua sự sàng lọc của nhiều năm tháng, tự bản thân nó còn trở thành một loại hình nghệ thuật độc lập và độc đáo, đáp ứng được nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật vốn rất đa dạng và phong phú của con người. Trong công cuộc khai hoang lập ấp chinh phục đất phương Nam, ca dao đã ra đời, trở thành một bộ phận không thể tách rời trong đời sống của người dân. Nó chính là những tâm tư, tình cảm, khát vọng của con người trên vùng đất mới.
Một mặt, nó phản ánh chân thực mọi bình diện của cuộc sống; mặt khác, nó là những tác phẩm thể hiện sức sáng tạo mạnh mẽ và tài hoa của nhân dân lao động. Từ ca dao, dân ca ra đời, sau đó tiến dần đến các loại hình nghệ thuật khác rất đặc trưng và rất độc đáo của người phương Nam như ca ra bộ, đờn ca tài tử, cải lương… Chính vì sự phát triển đặc thù ấy của ca dao nên phương pháp tiếp cận để nghiên cứu, chính là khung lý thuyết, là công cụ chủ đạo để tiến hành nghiên cứu. Như người nông dân đi cày thì cần phải có chiếc cày vậy. Trước khi tiến hành nghiên cứu đề tài, cũng như xác định phương pháp luận thích hợp, cần làm rõ một số luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận, coi đó như những định hướng quan trọng khi triển khai thực hiện.