Chương 1: Tổng quan về khái niệm yếu tổ Nơi chỗn trong tổ chức không gian đồ thị l.1 Những khái niệm về Nơi chốn, Tỉnh thần nơi chỗn và việc tạo lập bản sắc đô thị 1.2 Yếu tô nơi chỗn trong tô chức không gian đô thị Đà Nẵng.3 Yếu tố nơi chỗn trong tô chức không gian 0 mot số đô thị đặc trưng của Việt Nam.4 Yếu tổ nơi chốn trở thành bản sắc trong tổ chức không gian một số thành phố hiện đại trên thế giới.5 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đê tài 1.6 Kết luận chương Chương 2: Các luận cứ khoa học để nhận diện và khai thác yếu tô Nơi chốn trong việc tạo dựng ban sắc không gian đồ thị 2.1 Những cơ sở lý thuyết liên quan đến Nơi chốn và Tỉnh thân Nơi chỗn 2.2 Nhận thức về yếu tố Nơi chỗn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị.3 Những bài học kinh nghiệm liên quan đến Nơi chốn và Tinh thân Nơi chốn 2.4 Những đặc thù của đô thị Việt Nam dưới góc độ Nơi chốn va Tinh than noi chén 2.5 Kết quả điều tra Xã hội học về Nơi chốn ở đô thị Đà Nẵng Chương 3: Kết quả nghiên cứu- Những đề xuất nhằm nhận diện và khai thác yếu tô Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị có bản sắc.1 Nhận diện yếu tô Noi chén trong tô chức không gian đô thị 3.2 Khai thác yếu tô nơi chỗn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị 3.3 Nhận diện và khai thác yếu tố Nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị Đà Nẵng Chương 4: Bàn luận về kết quả nghiên cứu 4.1 Khang định vai trò của Nơi chỗn và Tỉnh thần nơi chốn trong việc tạo lập bản sắc đô thị.2 Nội dung của việc khai thác yếu tố Nơi chỗn trong tổ chức không gian đô thị 4.3 Khả năng và phạm vi vận dụng lý thuyết Nơi chốn và Tinh thân nơi chốn trong việc tô chức không gian đô thị KẾT LUẬN VÀ KIÊN NGHỊ I. Lý thuyết Nơi chỗn và Tỉnh thân nơi chon 2. Nhận điện yếu tố Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn của đô thị Đà Nẵng 3. Khai thác yếu tố Nơi chốn trong Qui hoạch đô thị Đà Nẵng II.
Kiễn nghị từ góc độ quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng 2. Kiến nghị từ góc độ quản lý nhà nước của Thành phố 3. Kiến nghị từ góc độ đào tạo trong các Trường và các Viện nghiên cứu DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BÓ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Chuong 1: TONG QUAN VE KHAI NIEM YEU TO NOI CHON TRONG TO CHUC KHONG GIAN DO THI 1.1 Những khái niệm về Nơi chon, Tinh than nơi chốn và việc tạo lập bản sắc đô thị 1.1 Những khái niệm về Nơi chốn, Tỉnh thần nơi chốn 1.1 Nơi chỗn Thê giới được hình thành từ các sự vật và hiện tượng liên kết với nhau. Để năm bắt một cách trọn vẹn một sự vật hay hiện tượng ta phải liên hệ nó đến bối cảnh mà nó xuất hiện bằng cách trả lời các câu hỏi như: cái gì? khi nào? ở đâu? tại sao? và như thê nào? Rõ ràng câu hỏi “ở đâu?” có mối liên hệ mật thiết đến nơi chốn, đó chính là không gian vật chất, nơi các hiện tượng của thê giới diễn ra.
Từ những hoạt động nhỏ nhặt của đời sông hăng ngày đến tiến trình lịch sử của cả một quốc gia đều phải diễn ra trong một không gian nào đó. Như vậy, ta có thể nói răng nơi chốn là không gian vật chất, nơi các hiện tượng của thé giới diễn ra. Từ những hoạt động nhỏ nhặt của đời sống hăng ngày đến tiến trình lịch sử của cả một quốc gia đêu phải diễn ra trong một không gian (space) hay một địa điểm (location) nào đó (Hình H.1) Tuy nhiên, nếu xem xét nơi chốn chỉ như một không gian vật chất thuần túy sẽ không phản ánh đây đủ những đặc tính của nó. Một nơi chốn thường bao gồm nhiều yếu tô ví dụ như đô thị được tạo nên từ những ngôi nhà.
Khái niệm đô thị, vì thé, khong chi phản ảnh một tập hợp các sự vật mà còn phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật ay. Do đó, đô thị không chỉ được xem xét như một sự vật mà còn như một hiện tượng đóng vai trò làm môi trường sống cho các hiện tượng khác xảy ra. Vì vậy, khái niệm nơi chỗn còn được dùng như một cái gì đó vượt ra ngoài một vi tri cụ thê. Norberg Schulz đã nhân mạnh vai trò của nơi chốn khi viết răng: “Chứng fa tìm thấy ở đó một tập hợp bao gôm các sự vật cụ thể, có nguồn sốc vát liệu, hình hài, hoa văn bê mặt, màu sốc.
Toàn thể lập hợp áy của sự vật xác định nên một tính chất của khung cảnh và đó là thực chất của nơi chốn. Nhìn chưng, nơi chôn được xác định bởi tính cách (character) của nó hay bởi không khí (atmosphere) của nó `. [37] Tính chât phức tạp của nơi chỗn không cho phép mô tả chúng băng các khái niệm khoa học thuần túy. Khoa học thuân túy luôn tìm kiếm những tri thức khách quan và do đó nó dé dang bỏ qua yếu tố cận nhân tình hay cảm xúc con người (human feeline).
Trong khi đó, nhiệm vụ của kiến trúc là tạo nên nơi chốn cho cuộc sống hăng ngày, điều đó đòi hỏi nó phải găn liên với một đối tượng sử dụng cụ thê, trong một giai đoạn cụ thể và tại một địa điểm cụ thể. Đây là điều mà kiến trúc Hiện đại đã bỏ qua khi quá đề cao công năng và sự thuần khiết (purist). Để tạo nên những nơi chốn thực sự, kiến trúc đã chuyển hướng mối quan tâm của mình đến con người với môi trường và quá trình tương tác giữa chúng. Và thực tế xây dựng đô thị gần đây đã cho thấy những xu hướng nỗi bật sau: + Xem xét lại bản chất của kiến trúc: “Bản chất của kiến trúc được được thể hiện qua hai khái niệm: ý nghĩa (meaning) va cau tric (structure)”.[37| Ý nghĩa của kiến trúc năm trong mỗi quan hệ của nó với môi trường xung quanh còn cấu trúc hàm chỉ đặc tính bên ngoài của hệ thông các mối quan hệ.
Ví dụ như, Louis Kahn da lam sáng tỏ bản chất đô thị khi cho rằng đô thị là nơi sự gặp gỡ đòi hỏi phải có nơi chốn (cấu trúc), và ở đó, người ta có thể đến với nhau để khám phá thế giới của những người khác (ý nghĩa). “ Đô thị trở thành một tâm sương: tiếp nhận, phản chiếu và bộc lộ. Trong đô thị tất cả mọi thứ phản chiếu những thứ khác và những hình ảnh xuất hiện. Thông qua những hình ảnh đó, chúng ta có thể xây dựng sự hiện hữu của mình.
Do đó, gặp gỡ và lựa chọn chính là ` kích thước `” thực sự của thành pho.[3 8] + Xem kiến trúc như một tiến trình, một hệ thống các mỗi liên kết: Kiến trúc không chỉ đơn giản là một đối tượng cô lập, mà như một tập hợp của những mối liên hệ môi trường liên hệ đến người quan sát và khung cảnh xung quanh. Điều này không chỉ cho thấy tâm quan trọng của bối cảnh (context) trong thiết kế mà còn nói lên sự cần thiết phải xem xét thiết kế như một tiến trình (process). Để tạo nên những mối liên hệ môi trường, tiến trình quy hoạch cần nhắn mạnh cudc sống hiện tại hay sự nguyên vẹn băng cách bảo tồn những cấu trúc hiện hữu. Nhờ vậy, quy hoạch đó thích nghỉ và trở thành sự lựa chọn duy nhất phù hợp với hoàn cảnh.
+ Nhân mạnh vai trò của con người: Khái niệm con người trong không gian (body In space) được các kiến trúc sư phát triển và xem như một nhiệm vụ cấp thiết của kiến trúc nhăm ngăn chặn sự tan rã các tương tác xã hội trong xã hội hậu công nghiệp khi đường phố trở thành nơi những chiếc xe hơi tương tác với nhau còn con người thì văng bóng. Do đó, kiến trúc phải tạo nên nơi chốn, ở đó, con người tìm thây bản thân mình trong mối liên hệ với môi trường xung quanh. Điều này đòi hỏi người thiết kế phải làm việc trên khu đất, nâng cao vai trò của người sử dụng và tham khảo ý kiến của họ về đặc điểm địa phương trong mối liên hệ với những kiến thức chuyên môn của mình. Quy hoạch xây dựng đô thị cần phải dựa trên những điều kiện cụ thê của môi trường tự nhiên, đặc biệt phải xem xét kỹ các môi quan hệ tương tác g1ữa con người với không gian đô thị.
Băng cách đó, đô thị mới có khả năng trở thành một nơi chỗn gắn bó chặt chẽ với con người.2 Tỉnh thần nơi chốn Tinh than noi chôn (genius loci) là một khái niệm cùa người La Mã, theo niềm tin cô xưa, mỗi một sinh linh độc lập đều có tỉnh thần (genius), tirc thần hộ mệnh. Cái tỉnh thần ấy mang lại sự sống cho cư dân và nơi chốn, đi theo họ suốt đời từ khi sinh thành cho đến khi chết và xác định nên tính cách hay bản chất của họ. Ngay cả các vị thân cũng có tinh thân của mình và điều đó giải thích cho bản chất cơ bản của quan niệm ay. “Nhu vay tinh than chi ra rang một sự vật tôn tại hoặc có y chỉ tôn tại, theo cách nói của Kahn.
Không nhất thiết phải đi vào lịch sử của ý niệm tỉnh thân mà chỉ cân lưu ý rằng người xưa trải nghiệm môi trường sông của họ như thể nó được tạo nên bởi những tính cách nhát định. Việc thỏa hiệp với tỉnh thân của khu vực mà họ phải sống có một tâm quan trọng sống còn đổi với họ. ”[37] Trong tiến trình lịch sử, tinh thân nơi chôn luôn là yếu tố được đề cao cho dù nó được gọi với nhiều cái tên khác nhau. Trong kiến trúc tỉnh thần nơi chốn có thể được hiểu một cách đây đủ hơn qua việc phân biệt hai yếu tố không gian (space) va tinh cach (character) cia no.
Trong khi không gian chỉ ra cấu trúc ba chiều của các yếu tố câu thành noi chốn thì tính cách chỉ ra cái không khí mà không gian đó biểu thị. Đó không phải là một không gian toán học trừu tượng mà là không gian sông động với một tinh thân bên trong. Chúng ta có thể dé dang nhận ra điêu này trong nghệ thuật tô chức không gian của các kiến trúc sư bậc thây.