Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ CÁ NHÂN 1. Cơ sở lý luận về tổ chức khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ cá nhân 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm tài liệu lưu trữ Có rất nhiều cách định nghĩa về “tài liệu lưu trữ” khác nhau.
Theo Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 thì “tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ” [33;2]. Luật cũng khẳng định: “Tài liệu là vật mang tin, được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tài liệu bao gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và vật mang tin khác” [33;1]. Như vậy, định nghĩa về tài liệu tại Luật Lưu trữ đã khái quát được các đặc điểm cơ bản nhất về tài liệu.
Qua đó, tạo cơ sở pháp lý cho các văn bản liên quan đến công tác lưu trữ. Bên cạnh đó giúp chúng ta hiểu thuật ngữ TLLT một cách chính xác hơn. Trong Giáo trình “Lý luận và thực tiễn Công tác Lưu trữ” của nhóm tác giả Đào Xuân Chúc, Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Thâm, TLLT được định nghĩa: “TLLT là tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp và cá nhân có ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học lịch sử và các ý nghĩa khác được bảo quản trong các phòng kho lưu trữ” [18;6]. Theo quan niệm khác, trong cuốn Từ điển Thuật ngữ Lưu trữ Việt Nam 1992 lại cho rằng Tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị được lựa chọn từ trong khối tài liệu của cơ quan, tổ chức, đoàn thể, xí nghiệp và cá nhân được bảo quản cố định trong các lưu trữ để khai thác, sử dụng cho các mục đích chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, lịch sử …của xã hội.
Có thể nói, mỗi khái niệm đưa ra được các nhà khoa học, chuyên gia giải thích ở góc độ khác nhau nhưng đều có điểm chung về nguồn gốc xuất xứ, giá trị, vật mang tin, nơi bảo quản. Đối với tác giả, TLLT là tài liệu được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức và phục vụ cho hoạt động quản lý, điều hành, các hoạt động nghiên cứu khoa học,… của cơ quan, tổ chức đó được lưu trữ, bảo quản khoa học. TLLT gồm bản gốc, bản chính và bản sao hợp pháp. Do đó, nhiệm vụ của ngành lưu trữ không chỉ bảo quản an toàn thông tin tài liệu mà còn phải tìm ra các biện pháp Luan van 7 để TLLT được đưa vào khai thác sử dụng có hiệu quả.
Khái niệm tài liệu lưu trữ cá nhân Trong đời sống và hoạt động của mỗi cá nhân tiêu biểu đều hình thành một khối tài liệu quan trọng và có ý nghĩa. Đây là những nguồn tài liệu có giá trị phục vụ các hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử đối với quốc gia, xã hội. Xuất phát từ nhu cầu thực tế, nhiều gia đình ở Việt Nam đã có ý thức lựa chọn những tài liệu để lưu trữ tại gia đình hoặc trong các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia. Ở Việt Nam, cụm từ “tài liệu lưu trữ cá nhân, gia đình, dòng họ” được xuất hiện lần đầu tiên trong Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia năm 1982.
Cho đến năm 1992, trong Từ điển Lưu trữ Việt Nam do Cục Lưu trữ nhà nước xuất bản, đã định nghĩa Tài liệu xuất xứ cá nhân là tài liệu được hình thành trong quá trình sống và hoạt động của một hoặc một nhóm người. Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia năm 2001 có đề cập đến TLLT cá nhân được bao hàm trong khái niệm TLLT. Trong đó khẳng định TLLT quốc gia cũng bao gồm tài liệu của các cá nhân nhưng chỉ đề cập đến các nhân vật lịch sử tiêu biểu. Có thể nói, về mặt lý thuyết, việc xác định TLLT cá nhân chỉ liên quan đến các nhân vật lịch sử, tiêu biểu làm phạm vi của TLLT cá nhân bị thu hẹp, hơn nữa cũng làm ảnh hưởng lớn đến việc sưu tầm các TLLT cá nhân khác do nhân dân bảo quản và lưu giữ.
Do vậy, chúng ta cần phải có cách hiểu đầy đủ hơn về TLLT có xuất xứ cá nhân. Trong cuốn Tổ chức và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ nhân dân, PGS.TS Vũ Thị Phụng cho rằng: “TLLT nhân dân (Private archives) là từ dùng để chỉ những tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cá nhân, gia đình, dòng họ; các hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp tư nhân (gọi chung là tổ chức tư nhân)… được các chủ sở hữu lựa chọn, tổ chức lưu giữ, bảo quản và sử dụng để phục vụ cho những nhu cầu, lợi ích của các cá nhân, tổ chức. Đây là những tài liệu không thuộc sở hữu nhà nước (hay nói cách khác là khu vực thuộc sở hữu phi nhà nước). Những tài liệu này rất phong phú và đa dạng, hiện đang được lưu giữ trong nhân dân (cá nhân, gia đình, dòng họ và các tổ chức cộng đồng)” [37;17].
Từ các quan điểm, ý kiến trên, tác giả xin đưa ra định nghĩa về TLLT cá nhân như sau: Tài liệu lưu trữ cá nhân hay còn gọi là tài liệu có xuất xứ cá nhân là toàn bộ tài liệu hình thành trong quá trình sống và hoạt động riêng của từng người, chúng mang thuộc tính cá nhân, thuộc về cá nhân đó, có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử đối với quốc gia, xã hội, được lưu trữ và đăng ký thuộc Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam. Khái niệm tổ chức khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ Khai thác sử dụng và tổ chức khai thác sử dụng TLLT phản ánh mối liên hệ mật thiết giữa hoạt động của độc giả và hoạt động của người làm công tác lưu trữ. Tuy nhiên, cần phải có sự phân biệt rạch ròi giữa các khái niệm. Sử dụng TLLT là hoạt động của độc giả, người có nhu cầu tìm kiếm, sử dụng thông tin trong tài liệu để phục vụ các mục đích khác nhau.
Còn tổ chức sử dụng TLLT lại là hoạt động của người làm công tác lưu trữ lấy các tài liệu trong kho ra để phục vụ khi độc giả có yêu cầu. Tuy nhiên, tổ chức khai thác sử dụng TLLT lại là hoạt động của cơ quan lưu trữ. Ngay cả khi độc giả chưa có yêu cầu tìm kiếm thông tin thì cán bộ lưu trữ căn cứ vào tiềm năng thông tin trong tài liệu để tăng nhu cầu tìm kiếm thông tin của độc giả, hoạt động này mang tính chủ động, hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung. Trong công tác lưu trữ, tổ chức khai thác sử dụng là một khâu nghiệp vụ cuối cùng của công tác lưu trữ.
Tổ chức khai thác sử dụng TLLT không chỉ cung cấp thông tin cho hoạt động quản lý mà còn cung cấp thông tin phục vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử và các nhu cầu chính đáng khác của công dân. Khi đề cập đến khái niệm tổ chức khai thác sử dụng TLLT còn nhiều tài liệu đề cập đến: - Tổ chức sử dụng TLLT là quá trình phục vụ khai thác thông tin tài liệu để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của độc giả. - Tổ chức khai thác sử dụng TLLT là quá trình tổ chức khai thác thông tin TLLT phục vụ nghiên cứu lịch sử và yêu cầu nghiên cứu giải quyết những nhiệm vụ hiện hành của các cơ quan, tổ chức và cá nhân (Giáo trình Lý luận và phương pháp công tác lưu trữ, 2016) [22;239]. Tổ chức khai thác sử dụng còn được hiểu là hoạt động cung cấp thông tin lưu trữ hoặc TLLT cho những người có nhu cầu phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phát huy giá trị sử dụng của tài liệu, đảm bảo quyền thông tin cho công dân, giúp cơ quan, tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; thực hiện nhiệm vụ được Nhà nước phân công đảm nhận; giúp trao quyền tri thức của nhân loại.
Theo cách lý giải này, công tác tổ chức khai thác sử dụng (dưới đây viết tắt là TCKTSD) nghiên cứu về nhu cầu sử dụng tài liệu, về các hình thức sử dụng tài liệu và các biện pháp phát huy giá trị TLLT. Đối tượng nghiên cứu của công tác TCKTSD TLLT là giá trị sử dụng của TLLT, nhu cầu của người sử dụng, thủ tục tiếp cận tài liệu, hình thức cung cấp tài liệu và hình thức tuyên truyền, quảng bá TLLT. Khái niệm tổ chức khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ cá nhân Xuất phát từ các khái niệm trình bày ở trên, có thể nói tổ chức khai thác sử dụng TLLT cá nhân là quá trình tổ chức khai thác thông tin từ TLLT cá nhân phục vụ yêu cầu nghiên cứu lịch sử, khoa học, các mục đích chính đáng của công dân. Trong một số trường hợp tổ chức khai thác sử dụng TLLT cá nhân phải được sự chấp thuận của chủ sở hữu hoặc cá nhân, tổ chức được ủy quyền (nếu có) trong trường hợp chủ sở hữu ký gửi tài liệu tại các Trung tâm lưu trữ.
Hiện nay, với khối lượng, thành phần tài liệu đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung của các cá nhân, gia đình, dòng họ đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, việc tổ chức khai thác sử dụng TLLT cá nhân là vô cùng cần thiết nhằm phát huy giá trị của tài liệu, đưa TLLT nói chung và TLLT cá nhân đến gần với độc giả hơn. Đặc điểm của tài liệu lưu trữ cá nhân TLLT cá nhân là một loại hình của TLLT, có các đặc điểm chung của TLLT như: chứa đựng các thông tin về quá khứ, phản ánh quá trình sinh sống, hoạt động, sáng tác của các cá nhân tiêu biểu, gia đình, dòng họ. Đây là một loại hình tài liệu rất đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Tuy nhiên, TLLT cá nhân là một loại hình tài liệu rất đặc biệt, nên ngoài các đặc điểm nêu trên, TLLT cá nhân còn có một số điểm khác biệt sau: Thứ nhất, về tính sở hữu của tài liệu lưu trữ cá nhân Nhắc đến TLLT cá nhân trước hết người ta nghĩ đến quyền sở hữu của chúng.