CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC 1. Khái niệm vận tải đa phương thức Vận tải đa phương thức là phương thức vận tải hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau, trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức, một chứng từ vận tải, một chế độ trách nhiệm và chỉ một người chịu trách nhiệm về hàng hóa trong suốt quá trình chuyên chở từ một điểm ở một nước đến một điểm chỉ định ở một nước khác để giao hàng. Nội dung vận tải đa phương thức 1.
Đặc điểm của vận tải đa phương thức Việc vận tải phải có ít nhất 2 phương thức vận chuyển; Người kinh doanh vận tải đa phương thức hành động như người chủ ủy thác chứ không phải như đại lý của người gửi hàng hay đại lý của người chuyên chở tham gia vào vận tải đa phương thức; Người kinh doanh vận tải đa phương thức là người phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa trong một quá trình vận chuyển từ khi nhận hàng để chuyên chở cho tới khi giao hàng cho người nhận kể cả việc chậm giao hàng ở nơi đến; 1. Các mô hình vận tải đa phương thức Hiện nay, có 5 mô hình vận tải đa phương thức được sử dụng trong việc vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các quốc gia khác nhau trên thế giới. Mô hình vận tải đường biển – vận tải hàng không (Sea – Air) được sử dụng để vận chuyển các loại hàng hóa có giá trị cao, hàng hóa có tính thời vụ cao hoặc hàng hóa phải vận chuyển vào sâu trong đất liền. Hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển tới cảng chuyển tải, sau đó, được vận chuyển bằng đường hàng không tới người nhận hàng ở sâu trong đất liền một cách nhanh chóng.
Mô hình vận tải đường bộ – vận tải hàng không (Road – Air) là hình thức sử dụng phương tiện vận tải đường bộ để tập trung hàng hóa về các cảng hàng không hoặc từ các cảng hàng không chở hàng hóa đến nơi giao hàng kết hợp với vận tải hàng không. Như vậy, hoạt động vận tải đường bộ được thực hiện ở đoạn đầu và đoạn cuối của mô hình vận tải này. Mô hình vận tải đường sắt – vận tải đường bộ (Rail – Road): hàng hóa sẽ được đóng vào container và rơ-mooc rồi được vận chuyển đến các nhà ga bằng đầu kéo, sau đó rơ-mooc sẽ được nối vào với các toa tàu, tàu vận chuyển hàng hóa đến ga đích và sử dụng đầu kéo để vận chuyển hàng hóa đến với người nhận. Mô hình vận tải đường sắt, đường bộ, vận tải thủy nội địa – vận tải đường biển (Rail/Road/Inland waterway – Sea) thích hợp với nhiều loại hàng hóa không yêu cầu gấp rút về thời gian vận chuyển.
Hàng hóa sẽ được vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ hoặc thủy nội địa đến cảng biển thuộc nước xuất khẩu sau đó vận chuyển bằng đường biển đến cảng biển thuộc nước nhập khẩu rồi hàng hóa lại được vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ hoặc thủy nội địa để giao cho người nhận ở sâu trong nội địa. Mô hình cầu lục địa (Land Bridge): hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển vượt qua các đại dương đến các cảng ở một lục địa nào đó cần phải chuyển qua chặng đường 3 trên đất liền để đi tiếp đường biền đến châu lục khác. Chặng vận tải trên đất liền được ví như chiếc cầu nối liền hai chặng vận tải trên vùng biển hay đại dương cho chuyến hàng hóa đó. Điều kiện kinh doanh vận tải đa phương thức theo quy định của pháp luật Việt Nam Theo Nghị định số 87/2009/NĐ-CP về Vận tải Đa phương thức của Chính phủ đã được sửa đổi bổ sung theo Điều 5 của Nghị định số 89/2011/NĐ-CP, Nghị định số 144/2018/NĐ-CP quy định như sau: "Điều 5.
Điều kiện kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế 1. Doanh nghiệp, hợp tác xã Việt Nam, doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam chỉ được kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế sau khi có Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế trên cơ sở đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: a) Duy trì tài sản tối thiểu tương đương 80.000 SDR hoặc có bảo lãnh tương đương hoặc có phương án tài chính thay thế theo quy định của pháp luật; b) Có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp vận tải đa phương thức hoặc có bảo lãnh tương đương. Doanh nghiệp của các quốc gia là thành viên Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức hoặc là doanh nghiệp của quốc gia đã ký điều ước quốc tế với Việt Nam về vận tải đa phương thức chỉ được kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế sau khi có Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế của Việt Nam trên cơ sở đáp ứng đủ các điều kiện sau: a) Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vận tải đa phương thực quốc tế hoặc giấy tờ tương đương do cơ quan có thẩm quyền nước đó cấp; b) Có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp vận tải đa phương thức hoặc có bảo lãnh tương đương. Bộ Giao thông vận tải tổ chức quản lý và cấp Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế.
Tiêu chí đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động vận tải đa phương thức Đánh giá hiệu quả hoạt động là việc làm rất quan trọng đối với hầu hết các nhà cung ứng dịch vụ. Để đánh giá hiệu quả của bất kỳ dịch vụ nào cũng cần đưa ra tiêu chí để căn cứ vào đó biết được các hoạt động trong thực tiễn đã đạt được hiệu quả đề ra hay chưa. Tính hiệu quả trong hoạt động vận tải hàng hóa nói chung và hoạt động vận tải đa phương thức nói riêng được đánh giá thông qua một số tiêu chí thể hiện chất lượng của dịch vụ. Đảm bảo thời gian giao hàng Tiêu chí hàng đầu trong vận tải đa phương thức là đảm bảo thời gian giao hàng.
Thời gian giao hàng là tiêu chí rất quan trọng, là tiêu chí đầu tiên để khách hàng đánh giá trực tiếp dịch của công ty có tốt hay không. Đảm bảo thời gian giao hàng tức là hàng hóa phải được giao hàng đúng địa điểm và giao sớm hơn hoặc đúng thời gian mà khách hàng yêu cầu. Đảm bảo chất lượng hàng hóa trong suốt quá trình vận tải Một tiêu chí không kém quan trọng nữa là đảm bảo chất lượng hàng hóa khi giao hàng. Hàng hóa xuất nhập khẩu hiện nay rất đa dạng về chủng loại, đi kèm với sự đa dạng về chủng loại là những yêu cầu khác biệt trong bảo quản, vận chuyển.
Vì vậy, dịch vụ vận tải phải đáp ứng được việc lựa chọn, bố trí những phương tiện phù hợp đề hàng hóa sau khi vận chuyển không bị hư hỏng, gãy, vỡ do vận chuyển. Phạm vi thực hiện dịch vụ Phạm vi là khu vực và khoảng cách địa lý mà công ty có thể cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Phạm vi thực hiện dịch vụ của công ty càng rộng càng dễ tìm kiếm khách hàng. Bên cạnh đó, sự bố trí các phương tiện trong phạm vi rộng có thể giúp công ty thực hiện các chuyến giao hàng nhanh hơn, tiết kiệm chi phí hơn.
Khả năng giải quyết, khắc phục sự cố không mong muốn Trong bất kỳ chặng vận tải nào cũng có thể xảy những sự cố không mong muốn. Do đó, trang bị những kỹ năng cho nhân viên, những phương án dự phòng để hạn chế các sự cố và có thể nhanh chóng giải quyết sự cố là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động dịch vụ đa phương thức. Các sự cố có thể xảy ra trên các chặng vận tải khác nhau như: thiên tai, phương tiện hư hỏng giữa đường, cướp biển, chiến tranh,… Đối với chặng vận tải trên biển, cần có những nghiên cứu, dự toán rủi ro từ đó thực hiện mua bảo hiểm để phòng ngừa những thiệt hại, giảm thiểu rủi ro tối đa cho khách hàng và công ty. Đối với chặng vận tải đường bộ cũng thực hiện tương tự, tuy nhiên cần thêm các phương án dự phòng để có thể linh hoạt giải quyết các sự cố do phương tiện bị hư hỏng.
Chi phí dịch vụ vận tải Chi phí dịch vụ vận tải là các chi phí mà công ty đầu tư vào để thực hiện các hợp đồng cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chí phí là một trong những khoản trực tiếp cấu thành giá cả dịch vụ. Giá cả dịch vụ có tính cạnh tranh trên thị trường sẽ giúp công ty thu hút khách hàng, tạo nên một trong những lợi thế cạnh tranh của công ty trong lĩnh vực vận tải đa phương thức. Các chi phí trong dịch vụ vận tải gồm có: chi phí thuê các phương tiện vận tải trên các chặng công ty không tự thực hiện được, chi phí nhiên liệu, chi phí trả nhân viên, chi phí sửa chữa các phương tiện, phí vận tải đường bộ, phí chuyển tải giữa các phương tiện và các khoản chi phí dự phòng khác.
Chi phí dịch vụ vận tải là tiêu chí quan trọng để công ty xem xét, so sánh với doanh thu từ lĩnh vực này để biết được hoạt động này đang được thực hiện hiệu quả hay không, các chi phí có hợp lý chưa, các chi phí đã thực sự tối ưu hay còn có thể giảm những chi phí không cần thiết. Từ đó có thể giảm giá thành của dịch vụ để tăng sức cạnh tranh hoặc có được phần lợi nhuận nhiều hơn từ lĩnh vực dịch vụ vận tải đa phương thức, góp phần tăng lợi nhuận cho công ty. Sự hài lòng của khách hàng về tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhân viên và công ty Sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ cũng là là tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động vận tải đa phương thức quan trọng. Sự hài lòng của khách hàng thể hiện qua việc khách hàng cảm thấy nhu cầu của khách hàng được công ty thỏa mãn, cách thức thực hiện dịch vụ của công ty chuyên nghiệp, hiện đại.
Khách hàng dễ trao đổi về các yêu cầu của họ với nhân viên công ty. Tuy nhiên đây là một tiêu chí rất khó đo lường bởi tính đa dạng trong yêu cầu của khách hàng. Thật khó để có thể đáp ứng tất cả những nhu cầu của từng khách hàng nhưng công ty hoàn toàn có thể đưa ra các tiêu chuẩn về dịch vụ của mình để đánh giá hiệu quả làm việc của nhân viên, hiệu quả hoạt động của các dịch vụ mà công ty cung ứng.