Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NƠI CHỐN TRONG ĐÔ THỊ VÀ TRUNG TÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Các thuật ngữ, khái niệm 1. Nơi chốn Khái niệm nơi chốn là một khái niệm phức tạp và đa chiều, hiện tại chưa có một định nghĩa chung và toàn diện về nó.
Tuy nhiên, Martin Heidegger, một triết gia người Đức nổi tiếng ở Thế kỷ XX với những đóng góp của mình vào ngành triết học hiện đại, đặc biệt là về ý thức hệ, hiện sinh và bản thể học (ontology). Trong công trình của mình, Heidegger không chỉ định nghĩa “nơi chốn” (place) theo cách truyền thống là một vị trí vật lý, mà nhìn nhận nó như một khía cạnh của sự “tồn tại” và “thế giới sống” (being- in-the-world). Theo Heidegger, “nơi chốn” gắn liền với khái niệm “Dasein” – “ở đó, nơi ở, sự ở” (một thuật ngữ Heidegger sử dụng để chỉ sự tồn tại của con người hay “sự có mặt” của con người trong thế giới). Theo đó, nơi chốn là không gian mà con người có thể trải nghiệm “sự ở”, không chỉ đơn thuần là không gian vật lý, mà còn là nơi các sự vật hiện hữu, sự việc xuất hiện và có ý nghĩa, nơi mà mối quan hệ giữa con người và thế giới được thiết lập và trở nên có ý nghĩa.
Trong nghiên cứu của mình (Der Ursprung des Kunstwerkes), Heidegger khám phá ý tưởng về “Raum” (không gian) và “Ort” (nơi chốn), ông phân biệt giữa không gian như một kích thước đo lường được và nơi chốn như là một “địa điểm” mà tại đó đồ vật và ý nghĩa được hiện sinh. Như vậy, theo Heidegger, “nơi chốn” không chỉ đơn giản là một địa điểm trên bản đồ, mà là một khung cảnh sống động, một bối cảnh có liên quan mật thiết đến cách mà con người tồn tại và tương tác với thế giới của họ [109]. Christian Norberg-Schulz, một kiến trúc sư người Na Uy nổi tiếng với công trình của mình về khái niệm “nơi chốn” trong lý thuyết kiến trúc và phê bình kiến trúc. Ông đã phát triển một lý thuyết về nơi chốn dựa trên những ý tưởng của hiện tượng học (phenomenology), nhất là dựa trên tác phẩm của Heidegger và Edmund Husserl.
Theo Norberg-Schulz, nơi chốn (place) không đơn giản là một vị trí địa lý hoặc một không gian vật lý; nó là tổng hợp của những trải nghiệm, cảm xúc, và ý nghĩa mà con người kết hợp với không gian đó. Norberg-Schulz nhấn mạnh rằng, nơi chốn có “tính chất”, “không gian” và “thời gian” riêng - những yếu tố này tạo nên cái mà ông gọi là “không 11 gian sống” (lived space) của con người. Norberg-Schulz sử dụng các thuật ngữ như “khí tính” (genius loci) để mô tả linh hồn hoặc đặc trưng của nơi chốn. Ông tin rằng, mỗi địa điểm đều có một bản sắc đặc biệt mà nó đem lại cho những người sống hoặc sử dụng không gian đó.
Nhấn mạnh việc hiểu và thiết kế không gian kiến trúc sao cho phản ánh và tăng cường “khí tính” của nơi chốn đó [83]. Từ đó, có thể thấy rằng, Phương Tây nhìn nhận nơi chốn theo hiện tượng học kiến trúc (phenomenology of architecture). Nó nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường mà trọng tâm liên quan đến con người, môi cảnh, kiến trúc, đô thị và địa điểm. Chính vì vậy, hiện tượng học kiến trúc còn được gọi là hiện tượng học địa điểm (place phenomenology).
Khác với những khái niệm trên về nơi chốn đã có, trong quá trình nghiên cứu của mình, Yi-Fu Tuan (một nhà địa lý người Mỹ gốc Hoa) phân biệt rõ ràng giữa “không gian” (space) - được hiểu là một cấu trúc mở, trừu tượng, và “nơi chốn” (place) - được hiểu là không gian có ý nghĩa và được cá nhân hóa. Theo đó, “không gian” là phổ quát và trừu tượng, nó cho phép con người di chuyển và được định hình bởi tự do cũng như cảm giác. Trái lại, “nơi chốn” là không gian đầy đủ ý nghĩa, nơi chúng ta biết đến như là nhà cửa, cộng đồng, hay quê hương. Nơi chốn liên kết với cảm xúc và ký ức, là không gian mà ở đó con người cảm thấy gắn bó và có mối quan hệ cá nhân sâu sắc.
Yi-Fu Tuan nhấn mạnh rằng, nơi chốn phát triển từ không gian qua sự quen thuộc và ý nghĩa. Khi con người dành thời gian cho một địa điểm, con người bắt đầu gắn kết với nó và biến không gian đó trở thành nơi chốn [129]. Theo Doãn Minh Khôi: “Môi cảnh thiên nhiên và môi cảnh vật chất đồng thời tạo cho con người sản sinh ra cảm giác quy thuộc vào một vị trí địa điểm sống mà ta gọi là nơi chốn. Chúng được kết tụ và nuôi dưỡng thông qua các sản phẩm phục vụ đời sống của bao thế hệ.
Trong mối quan hệ này, những yếu tố vật thể trở thành cốt lõi, yếu tố phi vật thể trở nên linh thiêng. Chúng được tôn thờ và trở thành bất biến” [28]. Trong tác phẩm “Đô thị học nhập môn”, Trương Quang Thao cho rằng: “Sự thích nghi của con người đối với môi trường ở do họ tự tạo ra. Ở đó nhu cầu và khả năng ăn khớp với nhau, ham muốn nằm trong tầm với của thực thi, các giá trị đều phù hợp với những biểu tượng cộng đồng.
Và một khi điều đó đã đạt được thì môi trường ở không còn là không gian vô hồn và nó sẽ trở thành nơi chốn: nhà cửa, buôn làng, thôn xóm, phố xá gắn bó với con người, với cuộc sống hàng ngày của họ, mảnh đất nơi họ ở trở 12 thành thân thiết, thành xứ sở, nơi ông bà cha mẹ họ từng vất vả gây dựng nên và truyền lại cho họ. Ở đó, mọi cột mốc như cây cổ thụ, cổng làng, đình làng, dòng sông, bến đò v.v… đã biến thành ký ức chung của cộng đồng. Hồn nơi chốn sinh ra và tồn tại trong tâm thức con người như thế đó” [61, tr. Theo wikipedia, nơi chốn là những khía cạnh độc đáo, khác biệt và đáng yêu của một địa điểm, nói một cách hình tượng thì “nơi chốn” không chỉ là một thực thể hiện thực mà còn là một thực thể tâm linh như Chế Lan Viên đã viết: “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở.
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Tóm lại, khái niệm nơi chốn đến nay còn nhiều những bàn cãi và tranh luận khác nhau giữa các nhà nghiên cứu. Theo quan điểm Phương Tây, nơi chốn là một địa điểm có tinh thần đối với con người và mang tính cá thể. Mỗi con người có thể có nơi chốn của riêng mình và nơi chốn được hình thành bởi cảm nhận cá nhân.
Còn Phương Đông, nơi chốn là một không gian chung có bản sắc riêng mang tính cộng đồng. Nó được đại đa số người dân thừa nhận, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với họ. Xét bối cảnh nền văn hóa Việt Nam mang tính cộng đồng làng xã, có tính trọng âm, nơi chốn trong luận án được hiểu và khái niệm là địa điểm có sự gắn bó tinh thần của cộng đồng dân cư nơi đó, được xây dựng trên nền tảng các đặc trưng vật thể và phi vật thể. Các đặc trưng này tạo nên giá trị nơi chốn.
Quá trình hình thành nơi chốn và sự khác nhau về quan niệm nơi chốn giữa Phương Đông và Phương Tây 1. Giá trị nơi chốn Giá trị (value) là một khái niệm vô cùng đa diện và đa dạng, tùy thuộc vào ngữ cảnh và lĩnh vực sử dụng. Tuy nhiên, ở mức độ chung nhất, giá trị là một đặc tính, một tính chất của một vật, một sự việc hoặc một hành động được đánh giá bởi một người 13 hoặc một nhóm người dựa trên các tiêu chuẩn nhất định. Giá trị có thể được đo lường bằng tiền tệ hoặc các đơn vị khác, hoặc chỉ đơn giản là một khái niệm trừu tượng về mức độ quan trọng, ý nghĩa hay ý tưởng của một thứ gì đó đối với con người.
Trong không gian nơi chốn, giá trị được được nhìn nhận là giá trị tinh thần của một vùng đất được xác thực qua không gian của nó. Trong không gian này, các giá trị vật thể và giá trị phi vật thể tồn tại chạm đến cảm xúc của cộng đồng dân cư. Giá trị vật thể (tangible value) là hữu hình như địa hình, công trình kiến trúc, cảnh quan,… có thể đo lường hoặc đánh giá được một cách cụ thể bằng các phương pháp định giá khác nhau, bao gồm giá trị sử dụng, giá trị độc tôn hay giá trị tái sản xuất. Giá trị phi vật thể (intangible value) là các giá trị vô hình như các hoạt động sinh hoạt văn hoá truyền thống, khí hậu đặc trưng vùng miền,… là đối tượng không thể đo lường bằng cách sờ thấy, nhìn thấy một cách cụ thể.
Nó chỉ có thể đo lường bằng các phương pháp như khảo sát, đánh giá của cộng đồng dân cư, các chỉ số chất lượng dịch vụ và các phương pháp định tính khác. Giá trị nơi chốn là thước đo để xây dựng bản sắc của một địa điểm hay một đô thị rộng lớn. Không gian đô thị Không gian là một khái niệm rất phổ biến và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau; ở mỗi lĩnh vực, không gian có ý nghĩa và định nghĩa khác nhau. Trong quy hoạch đô thị, Rob Krier cho rằng: không gian đô thị là tất cả không gian giữa các tòa nhà, được giới hạn về mặt hình học bởi nhiều độ cao khác nhau.
Theo ông, không gian bên ngoài được coi là không gian mở, không bị cản trở sự di chuyển ngoài trời của công chúng; trong khi đó, không gian bên trong được che chắn khỏi những bất lợi của thời tiết và môi trường xung quanh [120]. Theo Võ Kim Cương: “Không gian đô thị là không gian hình học ba chiều, trong không gian đó đô thị tồn tại và phát triển. Không gian đô thị có thể có biên giới và có thể không có biên giới”. Theo Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12: “Không gian đô thị là không gian bao gồm các vật thể kiến trúc đô thị, cây xanh, mặt nước trong đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị”.
Như vậy, không gian đô thị là không gian trong một khu đô thị, bao gồm các khu vực mở và khu vực được xây dựng như đường phố, công viên, quảng trường, khu thương mại và công trình kiến trúc,. Không gian đô thị thường được thiết kế để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, công việc, giải trí và giao thông của người dân trong khu vực đô thị; là nơi diễn ra các hoạt động xã hội một cách cởi mở và mọi người dễ dàng tham gia và 14 thực hiện quyền công dân của mình.