Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan nghệ thuật Cải lương ở ĐBSCL Chương 2. Khai thác nghệ thuật Cải lương vùng ĐBSCL trong hoạt động du lịch Chương 3. Các giải pháp và khuyến nghị khai thác nghệ thuật Cải lương để phát triển du lịch ở ĐBSCL 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHỆ THUẬT CẢI LƢƠNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.
Các khái niệm về du lịch 1. Du lịch Theo Luật Du lịch năm 2005: “du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Song, theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization) thì du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
Cùng quan điểm trên, Nguyễn Phạm Hùng đã đưa ra định nghĩa về du lịch: “ là sự rời khỏi nơi cư trú của mình trong khoảng thời gian nhất định để thưởng thức, khám phá, trải nghiệm về những điều mới lạ và khác lạ của tự nhiên và văn hóa nhằm thỏa mãn sự tò mò của con người.” [73] Nói tóm lại, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong khoảng thời gian nhất định. Tài nguyên du lịch Tài nguyên là điều kiện để tổ chức các loại hình du lịch. Luật Du lịch nêu rất rõ: "Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch". Trong đó khái 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm tài nguyên được hiểu theo nghĩa rộng là tài nguyên bao gồm tất cả nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Tài nguyên được chia làm hai loại: tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Trong các loại kể trên thì nghệ thuật dân tộc, trong đó có sân khấu Cải lương là loại tài nguyên du lịch nhân văn đặc biệt.
Sản phẩm du lịch Theo Luật Du lịch sửa đổi tháng 6/2005: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Còn theo quan điểm Marketting, sản phẩm du lịch là những hàng hoá và dịch vụ có thể thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng của khách du lịch. Hay Sản phẩm du lịch: Là một quá trình trực tiếp cho phép các doanh nghiệp và các cơ quan du lịch xác định khách hàng hiện tại và tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện và sáng kiến khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế để các đơn vị này có thể thiết kế và tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng của khách và đạt được mục tiêu đề ra. [52] Như vậy, Cải lương là sản phẩm phi vật chất trong dịch vụ du lịch.
Cải lương nói riêng và các bộ môn nghệ thuật truyền thống Việt Nam nói chung sẽ góp phần thỏa mãn nhu cầu về tinh thần của du khách. Cải lương một sản phẩm du lịch đặc thù của ĐBSCL. Khách du lịch (du khách) Luật Du lịch khẳng định: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Song theo Josef Stander, Ogilvie, Ủy ban đánh giá tài nguyên Quốc gia Hoa Kỳ, Văn phòng kinh tế Công nghiệp Australia,…cho rằng khách du lịch là người đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình không vì mục đích kinh tế với thời gian đi khỏi nhà từ 24 giờ trở lên.
Tuy nhiên, nhà xã hội học Cohen lại quan niệm: “Khách du lịch là một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và thay đổi thu nhận từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên” [64, tr 8,9]. Theo điều 34 của Luật Du lịch Việt Nam thì: - Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. - Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. - Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch(in bound); công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch(out bound).
[24, tr29,30] Nói tóm lại du khách là người từ nơi khác đến với mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất tinh thần hữu hình hay vô hình của thiên nhiên hoặc của cộng đồng xã hộị và sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch. Khách du lịch hiện đến Đồng bằng sông Cửu Long đa số là khách nội địa , ngoài ra còn có một số khách quốc tế. Cụ thể, tính trong 5 tháng đầu năm 2014, khách đến ĐBSCL là gần 11 triệu khách nội địa trong khi đó khách quốc tế là 803. Như vậy, so với cùng kỳ năm trước khách nội địa tăng 8,9% và khách quốc tế tăng 25,5%.
Xét về chỉ tiêu năm 2015 của Chính phủ về “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” khách quốc tế đạt 11,4% và khách nội địa đạt 30,5%. Hằng năm khách du lịch đến ngoạn cảnh ở ĐBSCL ngày một tăng. Điểm du lịch Luật Du lịch đã viết: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. Trong khi đó, xét về quan điểm kinh tế du thì lại khác.
Các nhà chuyên gia kinh tế cho rằng: 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong kinh tế du lịch, điểm du lịch là một nơi, một vùng hay một đất nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với dân ngoài địa phương và có những thay đổi nhất định trong kinh tế do hoạt động trong du lịch gây nên. Điểm du lịch bao gồm: Cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và các loại động thực vật; là kết quả sáng tạo do con người xây dựng nên, đó là bảo tàng, di tích cổ đại, di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật, du lịch nước, du lịch săn bắn, du lịch leo núi (mạo hiểm) và những nơi nghỉ mát; Chính phủ sẽ xác định các điểm du lịch và sự hấp dẫn về mặt du lịch tại các điểm đó. Theo điều 24 của Luật Du lịch(2006), điều kiện để được công nhận là điểm du lịch là : - Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch quốc gia: a) Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; b) Có khả năng bảo đảm phục vụ tối thiểu một trăm nghìn lượt khách du lịch một năm. c) Có đường giao thông thuận tiện đến điểm du lịch, có các dịch vụ: bãi đỗ xe, có khu vệ sinh công cộng, phòng cháy chữa cháy, cấp, thoát nước, thông tin liên lạc và các dịch vụ khác đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch.
d) Đáp ứng các điều kiện về bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật. - Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch địa phương: a) Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; b) Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm. [54 tr 22] Từ khái niệm trên, nhận thấy hệ thống rạp hát, khán phòng biểu diễn sân khấu Cải lương… có thể xem là điểm du lịch vì nó đáp ứng các điều kiện nêu trên. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tuyến du lịch Theo mục 9, điều 4 của Luật Du lịch thì “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp các dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không” [24, tr7] Nói cách khác tuyến du lịch là một con đường giao thông nối liền các điểm du lịch ở trong vùng hoặc ngoài vùng. Điều này cho phép Cải lương có thể thuận tiện trong việc di chuyển theo tour trong địa phương hoặc liên kết ngoài vùng nhằm mục đích giúp đỡ lẫn nhau giữa các đoàn hát hoặc nghệ nhân,…. Du lịch văn hóa Du lịch văn hóa « là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống ». Hay du lịch văn hóa « là một loại hình du lịch mà việc quy hoạch, lập trình, thiết kế tour có chú ý đến cảnh quan môi trường văn hóa, môi trường sinh thái.