Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và hiện đại hóa quân đội, khoa học và công nghệ quân sự đóng vai trò then chốt nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng. Theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng để xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và hiện đại. Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP và sau đó là Nghị định 54/2016/NĐ-CP nhằm thiết lập cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa học công nghệ công lập. Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế tự chủ dựa trên triết lý tiếp cận tài chính bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng khi triển khai trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng.

Tính đến tháng 5/2017, sau 12 năm thực thi chính sách tự chủ, toàn quân chỉ có duy nhất 01 viện nghiên cứu trực thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng được Bộ Quốc phòng giao quyền tự chủ thí điểm, đạt tỷ lệ dưới 25% trong khối viện nghiên cứu trực thuộc Tổng cục, trong khi hơn 75% đơn vị còn lại vẫn vận hành theo mô hình bao cấp truyền thống. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đổi mới quản lý khoa học với những đặc thù khép kín, bảo mật và phụ thuộc ngân sách nhà nước của lĩnh vực quốc phòng. Mục tiêu nghiên cứu nhằm nhận diện toàn diện các rào cản từ nhận thức, tài chính, hành chính đến hạ tầng kỹ thuật, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi để thúc đẩy chuyển đổi tự chủ tại 04 viện nghiên cứu nòng cốt thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng trong giai đoạn từ năm 2005 đến tháng 7/2017. Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn cao, giúp lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Tổng cục hoàn thiện thể chế quản lý, hướng tới nâng cao năng suất nghiên cứu và phát triển vũ khí, trang bị kỹ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận hiện đại về tổ chức khoa học công nghệ và lý thuyết quản lý tổ chức. Khung phân tích dựa trên 2 nền tảng lý thuyết lớn: Lý thuyết chu trình nghiên cứu và triển khai theo chuẩn phân loại của UNESCO và Lý thuyết tự trị tổ chức trong khoa học do Giáo sư Vũ Cao Đàm phát triển. Chu trình nghiên cứu bao gồm ba giai đoạn kế tiếp: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm. Trong đó, giai đoạn triển khai thực nghiệm gồm 3 bước bắt buộc: chế tác mẫu sơ khởi, chế thử quy mô pilot và sản xuất thử nghiệm loạt không.

Luận văn làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  • Tổ chức nghiên cứu và triển khai: Đơn vị chuyên môn thực hiện các khâu của chu trình nghiên cứu nhằm tạo ra tri thức và công nghệ mới.
  • Doanh nghiệp khoa học công nghệ: Mô hình cầu nối biến kết quả phòng thí nghiệm thành dây chuyền sản xuất thương mại hoặc quốc phòng.
  • Khoa học tự trị: Thiết chế trao toàn quyền cho cộng đồng nhà khoa học tự quyết định hướng nghiên cứu, nhân lực và kinh phí mà không bị chi phối bởi các mệnh lệnh hành chính thuần túy.
  • Rào cản tự chủ: Toàn bộ các quy định thể chế, cơ chế phân bổ nguồn lực và thói quen hành chính ngăn trở tổ chức phát huy năng lực nội tại.

Nghiên cứu sử dụng mô hình 4 dạng cấu trúc tổ chức khoa học công nghệ để định vị các viện công nghiệp quốc phòng, từ mô hình cổ điển kết nối doanh nghiệp qua tư vấn đến mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ tích hợp nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp với phương pháp điều tra thực địa định tính. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Nghị định 54/2016/NĐ-CP, Thông tư số 48/2008/TT-BQP và Thông tư số 60/2011/TT-BQP của Bộ Quốc phòng, cùng hệ thống báo cáo tổng kết nhiệm vụ khoa học công nghệ giai đoạn 2011 - 2016 của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 04 viện nghiên cứu đầu ngành: Viện Vũ khí, Viện Công nghệ, Viện Thuốc phóng Thuốc nổ và Viện Thiết kế tàu quân sự. Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc được thực hiện trên 35 cán bộ, gồm 5 lãnh đạo cơ quan quản lý khoa học cấp Tổng cục, 12 lãnh đạo cấp Viện và phòng chức năng, cùng 18 nghiên cứu viên chủ chốt. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp tổng hợp dữ liệu thống kê chuyên ngành là nhằm đi sâu khám phá bản chất các rào cản vô hình về cơ chế và tâm lý mà các thang đo định lượng thông thường không thể phản ánh đầy đủ. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong khung thời gian 12 tháng, từ tháng 7/2016 đến tháng 7/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tế tại 04 viện nghiên cứu trực thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mức độ tự chủ thực tế tại các viện nghiên cứu quân sự còn rất thấp. Trong tổng số 4 viện nghiên cứu khảo sát, chỉ có 1 đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ theo diện thí điểm từ Thông tư 48/2008/TT-BQP, chiếm tỷ lệ 25%, trong khi 3 viện còn lại (chiếm 75%) vẫn vận hành theo hình thức sự nghiệp bao cấp toàn phần.

Thứ hai, cơ cấu nguồn thu tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước giao hàng năm. Dữ liệu tài chính giai đoạn 2012 - 2016 cho thấy hơn 85% tổng kinh phí hoạt động của 4 viện đến từ việc thực hiện các đề tài, dự án được Bộ Quốc phòng chỉ định từ trên xuống. Nguồn thu từ các dịch vụ khoa học công nghệ và chuyển giao kỹ thuật cho khu vực kinh tế chỉ chiếm trung bình dưới 15% tổng doanh thu.

Thứ ba, cơ cấu nhân lực có trình độ cao phân bổ không đồng đều. Đội ngũ cán bộ có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ chiếm khoảng 30% đến 35% tổng số nhân lực nghiên cứu tại 4 viện, nhưng phần lớn phải dành trên 40% quỹ thời gian làm việc để xử lý các thủ tục giấy tờ hành chính và thanh quyết toán tài chính theo niên độ kế toán công.

Thứ tư, hệ thống hạ tầng thử nghiệm chưa đáp ứng được chu trình nghiên cứu hoàn chỉnh. Gần 60% các dự án chế tạo vũ khí, thuốc phóng nổ mới gặp điểm nghẽn ở khâu thử nghiệm pilot và bắn thử thực địa do thiếu trường thử chuyên dụng đạt chuẩn và phòng thí nghiệm chuyên ngành hiện đại.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua biểu đồ cơ cấu nguồn thu và bảng phân bổ nhiệm vụ nghiên cứu, có thể thấy rõ nguyên nhân gốc rễ của tình trạng chậm chuyển đổi tự chủ bắt nguồn từ việc đồng nhất khái niệm tự chủ với tự túc tài chính. Cơ quan quản lý vĩ mô tiếp cận tự chủ theo triết lý giảm chi ngân sách, buộc các đơn vị phải tự tìm kiếm thị trường. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với bản chất của khoa học công nghệ quân sự, nơi sản phẩm đầu ra phục vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, mang tính bí mật quốc gia tuyệt đối và không có thị trường tự do.

Kết quả này củng cố các luận điểm của tác giả Vũ Cao Đàm về việc xóa bỏ căn bệnh hành chính hóa khoa học và cơ chế xin cho. So sánh với các nghiên cứu của Lê Thu Hương và Trần Ngọc Long tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, rào cản tự chủ tại các viện nghiên cứu quân sự phức tạp hơn do bị chi phối bởi kỷ luật quân đội và các quy chuẩn bảo mật nghiêm ngặt. Phát hiện này cũng tương đồng với lý thuyết tổ chức của Kochan và Vachani, khi các tổ chức công có tính liên kết nhiệm vụ cao thường có xu hướng tập trung hóa quyền lực và mức độ tự chủ nội bộ thấp. Việc thiếu quyền tự quyết định đề tài nghiên cứu từ cấp cơ sở làm triệt tiêu động lực đổi mới sáng tạo của các kỹ sư quân sự.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ các rào cản thể chế và nâng cao năng lực tự chủ cho các viện nghiên cứu thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, tái định vị triết lý quản lý và hoàn thiện khung pháp lý về tự chủ khoa học quân sự. Bộ Quốc phòng cần ban hành quy chế đặc thù riêng cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển quân sự, chuyển từ cơ chế quản lý mệnh lệnh sang cơ chế Nhà nước đặt hàng và bảo trợ tài chính. Mục tiêu đặt ra là trong giai đoạn 2018 - 2021, hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả nghiên cứu dựa trên chất lượng sản phẩm quốc phòng thay vì quy trình chứng từ tài chính.

Thứ hai, đổi mới cơ chế xác định nhiệm vụ và giao quyền chủ động đề tài. Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cần nâng tỷ lệ các đề tài nghiên cứu do các viện tự đề xuất từ dưới lên đạt tối thiểu 60% tổng số nhiệm vụ vào năm 2025. Ban giám đốc 04 viện được toàn quyền phê duyệt các đề tài cấp cơ sở có mức kinh phí dưới 500 triệu đồng từ quỹ phát triển khoa học công nghệ của viện.

Thứ ba, cải cách triệt để công tác quản lý tài chính và chính sách thù lao. Áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, xóa bỏ niên độ kế toán cứng nhắc đối với các đề tài nghiên cứu kéo dài từ 2 đến 3 năm. Đồng thời, cho phép các viện trích tối thiểu 15% đến 20% chênh lệch thu chi từ dịch vụ kỹ thuật để thưởng trực tiếp cho nhóm tác giả sáng chế, tạo động lực kinh tế bền vững.

Thứ tư, tập trung đầu tư hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật và trường thử nghiệm. Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cần chủ trì quy hoạch xây dựng 01 trường thử vũ khí - khí tài tổng hợp đạt tiêu chuẩn quốc gia trước năm 2023 và nâng cấp 4 phòng thí nghiệm trọng điểm tại các viện, đảm bảo năng lực khép kín chu trình từ chế tạo mẫu sơ khởi đến sản xuất thử nghiệm loạt không.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng sâu sắc, là tài liệu tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Quốc phòng và Bộ Khoa học và Công nghệ. Luận văn cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn sắc bén để rà soát, điều chỉnh các thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 54/2016/NĐ-CP, giúp thiết kế chính sách tự chủ đặc thù cho khối các đơn vị sự nghiệp khoa học quốc phòng.

Thứ hai, Ban Lãnh đạo và cán bộ quản lý tại 04 viện nghiên cứu thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Các nhà quản lý viện có thể sử dụng khung nhận diện 6 rào cản để tái cấu trúc bộ máy nội bộ, xây dựng đề án tự chủ giai đoạn 2018 - 2025 và tối ưu hóa quy trình phân bổ nguồn lực nghiên cứu.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý công. Tài liệu cung cấp góc nhìn đa chiều về khoa học tự trị, giúp bổ sung tư liệu giảng dạy với hệ thống số liệu thực chứng độc đáo về lĩnh vực công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Thứ tư, học viên cao học và nghiên cứu sinh đang thực hiện đề tài về đổi mới thể chế khoa học công nghệ. Luận văn là hình mẫu chuẩn mực về phương pháp kết hợp lý thuyết tổ chức với nghiên cứu trường hợp chuyên sâu, hỗ trợ phát triển các khung phân tích tương tự cho các ngành đặc thù khác.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất của cơ chế tự chủ tại các viện nghiên cứu quân sự là gì? Tự chủ trong khoa học quân sự không đồng nghĩa với việc tự túc kinh phí hay thương mại hóa sản phẩm trên thị trường. Bản chất của tự chủ là quyền tự trị về học thuật, tức đơn vị được toàn quyền chủ động đề xuất hướng nghiên cứu, lựa chọn giải pháp công nghệ, sắp xếp nhân sự và tự chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm trước Bộ Quốc phòng.

Tại sao Nghị định 115/2005/NĐ-CP lại khó triển khai trong Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng? Nghị định 115 đặt trọng tâm vào việc biến tổ chức nghiên cứu thành doanh nghiệp tự trang trải tài chính. Trong khi đó, hơn 85% sản phẩm của 4 viện quân sự là vũ khí, trang bị phục vụ tác chiến bí mật, không thể mua bán thương mại tự do, khiến các đơn vị không thể tạo nguồn thu để vận hành theo cơ chế thị trường.

Rào cản lớn nhất đối với các nhà khoa học quân sự hiện nay là gì? Rào cản lớn nhất là tình trạng hành chính hóa công tác nghiên cứu và cơ chế xét duyệt đề tài phức tạp. Các nhà khoa học phải mất từ 30% đến 40% thời gian cho thủ tục thanh quyết toán hóa đơn chứng từ thay vì tập trung nghiên cứu, làm giảm hiệu suất sáng tạo và kéo dài thời gian hoàn thành sản phẩm.

Luận văn đề xuất tỷ lệ đề tài tự đề xuất của các viện là bao nhiêu? Luận văn khuyến nghị Bộ Quốc phòng và Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cần giảm tỷ lệ đề tài giao chỉ định từ trên xuống, đồng thời nâng tỷ lệ nhiệm vụ nghiên cứu do các viện tự đề xuất lên trên 60% vào năm 2025 nhằm giải phóng tính chủ động của các chuyên gia đầu ngành.

Làm thế nào để giải quyết nút thắt về hạ tầng thử nghiệm vũ khí? Luận văn đề xuất Tổng cục cần đầu tư xây dựng 01 trường thử liên hợp đa năng cấp Tổng cục trong lộ trình 2018 - 2023, kết hợp nâng cấp đồng bộ 4 phòng thí nghiệm chuyên ngành nhằm bảo đảm thực hiện trọn vẹn chu trình nghiên cứu từ chế tạo mẫu sơ khởi đến sản xuất thử nghiệm loạt không.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức khoa học công nghệ, khẳng định bản chất cốt lõi của tự chủ là quyền tự trị khoa học thay vì tự túc tài chính đơn thuần.
  • Công trình nhận diện đầy đủ 6 rào cản thể chế, kinh tế và hành chính đang kìm hãm sự phát triển của 04 viện nghiên cứu thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng giai đoạn 2005 - 2017.
  • Đóng góp chính của đề tài là xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ đổi mới triết lý quản lý, tăng quyền tự quyết đề tài đến trên 60%, cải cách khoán chi tài chính và đầu tư trường thử chuyên dụng.
  • Đề xuất lộ trình triển khai rõ ràng qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 2018 - 2021 hoàn thiện thể chế thí điểm và giai đoạn 2022 - 2025 nhân rộng mô hình tự trị toàn diện.
  • Kính mời các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để cùng thảo luận và hiện thực hóa các giải pháp đổi mới quản lý khoa học công nghệ quân sự.