phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong đó phần nội dung đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về chính sách Bảo hiểm Xã hội Chƣơng 2: Thực trạng chính sách Bảo hiểm Xã hội kể từ khi Luật Bảo hiểm Xã hội có hiệu lực thi hành 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Kiến nghị khắc phục những bất cập trong chính sách Bảo hiểm Xã hội. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm chính sách Chính sách là một thuật ngữ khá phổ biến trong đời sống xã hội, đƣợc dùng chủ yếu để thể hiện hành động của chính quyền đối với xã hội.
Tuy nhiên, thực tế chính sách xuất hiện ở hầu hết tất cả các vấn đề, từ cấp độ vi mô đến vĩ mô. Mỗi cá nhân, tổ chức muốn tồn tại và phát triển đều phải đƣa ra đƣợc chính sách cho mình, cho từng hoạt động, từng vấn đề trong đời sống xã hội. Chính sách không chỉ là sự tác động một chiều của chủ thể chính sách tới đối tƣợng mà còn tạo ra sự kết nối giữa các cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, với toàn xã hội. Qua tìm hiểu các tài liệu, tôi nhận thấy rằng có rất nhiều quan điểm khác nhau về chính sách, điều này phụ thuộc vào cách tiếp cận chính sách theo chính trị học, kinh tế học, xã hội học hay hệ thống.Trong luận văn này, tôi tiếp cận chính sách theo cách nhìn nhận của Khoa học quản lý.
Cụ thể, trong bài giảng Khoa học chính sách, PGS TS Vũ Cao Đàm định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi cho một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lực phát triển của một hệ thống xã hội”[26;13] Biện pháp đƣợc thể chế hóa trong định nghĩa trên tức là đã đƣợc thống nhất, tạo thành những nguyên tắc, quy tắc nhất định nhƣ: các đạo luật, nghị định, thông tƣ .hay các văn bản quy định trong nội bộ tổ chức. Ví dụ nhƣ chính sách Khoa học và công nghệ đƣợc thể chế hóa trong Luật Khoa học và công nghệ, chính sách tiền lƣơng đƣợc thể chế hóa trong Luật Lao động và các nghị định, thông tƣ có liên quan.Việc thể chế hóa chính sách là nhằm làm cho các biện pháp tác động của chính sách đƣợc pháp lý hóa, có nhƣ vậy chính sách mới có thể dễ dàng thâm nhập vào trong xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu của chủ thể chính sách. Ngoài ra, việc thể chế hóa chính sách cũng làm cho công tác quản lý 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc thực hiện chính sách đƣợc hiệu quả hơn, là một thƣớc đo, một công cụ mà chủ thể chính sách dựa vào đó để đánh giá, kiểm tra những tác động của chính sách. Từ cách tác động là tạo sự ƣu đãi cho một hoặc một nhóm xã hội, chính sách đã tạo nên sự bất công bằng.
Sự bất công này không quá lớn để tạo nên sự phẫn nộ nhƣng cũng không quá nhỏ để có thể kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm xã hội trên. Đôi khi trong một chính sách, mục đích tác động của chính sách là nhóm xã hội này, nhƣng khi thực hiện, chủ thể quản lý lại tác động vào nhóm xã hội khác. Vì xã hội là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, các nhóm trong xã hội luôn có sự tƣơng tác lẫn nhau, và cụ thể nhất là các cá nhân trong xã hội luôn có mối quan hệ tác động qua lại. Vậy nên, phƣơng pháp và đối tƣợng tác động của chính sách phụ thuộc vào sự quan sát, đánh giá các vấn đề trong thực tế của chủ thể chính sách.
Nếu nhƣ chủ thể quản lý không đánh giá vấn đề trong sự tác động của nhiều yếu tố thì đến đây chính sách đã bị coi là thất bại. Chính sách tác động vào một hoặc một nhóm xã hội nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó trong chiến lƣợc phát triển của một hệ thống xã hội. Đi vào chi tiết hơn, ta thấy nhóm xã hội bao gồm tập hợp các cá nhân tạo thành, vậy nên xét đến cùng chính sách tác động vào các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của chủ thể chính sách. Chính sách tác động vào tâm tƣ, nguyện vọng, nhu cầu của các cá nhân.
Trƣớc sự tác động này, việc các cá nhân cảm nhận thế nào và hành động ra sao là vấn đề chính yếu mà chủ thể quản lý quan tâm. Cho dù là mỗi các nhân sẽ có những suy nghĩ khác nhau, nhƣng thêm vào đó là sự tác động của hiệu ứng tâm lý nhóm sẽ làm cho các cá nhân sẽ có những hành động tƣơng đối giống nhau. Từ đó, chủ thể quản lý mới cho thể dễ dàng nắm bắt đƣợc những tác động chính sách và đƣa ra những điều chỉnh phù hợp với mục tiêu của chính sách. Nhƣ đã trình bày ở trên, các chính sách có thể đƣợc đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau: chính sách của Đảng, của chính phủ, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh nghiệp, chính sách của cá nhân.Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vi một tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó.
Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó. Còn các cá nhân đƣa ra chính sách cho bản thân đối với các vấn đề gặp phải trong cuộc sống thì tác động của chính sách cũng chỉ ảnh hƣởng chủ yếu đến bản thân họ. Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nƣớc ban hành, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng đƣợc gọi là chính sách công. Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung, nhƣng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nƣớc.
Chính sách công bao gồm nhiều chính sách cụ thể nhƣ: chính sách y tế, chính sách giáo dục – đào tạo, chính sách việc làm, chính sách văn hóa – thể thao – du lịch, lao động – bảo đảm an sinh xã hội. Mỗi chính sách lại bao gồm các tiểu chính sách nhằm giải quyết các vấn đề có khía cạnh lớn. Vì mục tiêu chung là thiết lập sự công bằng trật tự an toàn xã hội, ổn định, phát triển và vì sự tiến bộ xã hội. Nhiều chính sách đƣợc triển khai trong thực tế đã chứng tỏ đƣợc hiệu quả trong quản lý và giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên, cũng có nhiều chính sách trong quá trình triển khai gặp nhiều vƣớng mắc và thậm chí còn có nhiều sai phạm trong quá trình thực thi. Vì vậy, khi đƣa ra một chính sách, chủ thể chính sách các xác định ra những điểm sau: - Phân tích rõ đối tƣợng và phƣơng tiện thực hiện chính sách, để sao cho chúng phù hợp với mục tiêu chính sách, không làm đảo lộn những yếu tố không liên quan. - Đảm bảo chính sách đƣa ra đạt đƣợc mục tiêu nhƣng không gây ra sự bất bình sâu sắc đối với các đối tƣợng không đƣợc hƣởng lợi từ chính sách. Ở đây chủ thể ban hành chính sách có thể vận dụng định lý cân bằng Nash trong lý thuyết trò chơi, tức là mình đã thắng trong cuộc chơi nhƣng đối tác vẫn không cảm thấy bất mãn, không cảm thấy bị dồn vào đƣờng cùng.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chính sách làm phát triển hệ thống xã hội, tạo ra sự bất đồng bộ này từ sự bất đồng bộ khác. Khái niệm chính sách Bảo hiểm Xã hội Trong quá trình lao động sản xuất, con ngƣời tác động vào tự nhiên và tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra của cải vật chất. Sản phẩm tạo ra càng nhiều thì đời sống con ngƣời càng đƣợc nâng cao, xã hội thêm phát triển. Khi xã hội ngày càng hiện đại và văn minh hơn thì con ngƣời lại mong muốn nhu cầu của mình đƣợc thoả mãn ở mức cao hơn.
Con ngƣời sẽ không chỉ mong muốn đƣợc đáp ứng các nhu cầu cơ bản trong đời sống, mà còn đƣợc chuẩn bị để đối phó với những tình huống có thể xảy ra trong tƣơng lai. Bởi vì trong quá trình tác động vào thiên nhiên, thì con ngƣời cũng phải chịu sự tác động của các quy luật khách quan, các yếu tố tự nhiên và xã hội mà đôi khi con ngƣời không thể kiểm soát đƣợc. Hơn nữa trong đời sống không phải bao giờ mọi chuyện cũng suôn sẻ, họ có thể gặp phải những hoàn cảnh không may, ốm đau, mất việc, tuổi già.Những lúc nhƣ vậy, những nhu cầu thiết yếu không những mất đi mà còn nảy sinh thêm nhiều nhu cầu khác. Họ cần đƣợc khám, chữa bệnh, họ cần có ngƣời chăm sóc .Vậy nên việc nhà nƣớc tạo ra chính sách BHXH, đã góp phần giúp cho NLĐ có thể yên tâm lao động, vì đời sống của họ đã đƣợc đảm bảo một phần.
Sự đảm bảo này đƣợc hình thành từ việc chia sẻ rủi ro của một ngƣời hay một số ít ngƣời cho cả một cộng đồng có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi ngƣời trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó sẽ bù đáp cho những ngƣời trong cộng đồng không may gặp thiệt hại do rủi ro nào đó. Sau đây là một số khái niệm về BHXH: Điều 3 Chƣơng I của Luật BHXH quy định: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [39; Điều 3] 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.