Chương 1: Giới thiệu. Trong chương trình trình bày lý do vì sao chọn đề tài này, nêu lên mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và phạm vi của nghiên cứu. Chương II: Cơ sở lý thuyết. Chương này trình bày hệ thống các lý thuyết có liên quan đến vấn đề khả năng thích ứng nói chung và khả năng thích ứng trong lĩnh vực môi trường, biến đổi khí hậu.
Hệ thống lại các nghiên cứu có liên quan đến việc thích nghi, khả năng thích ứng đến vấn đề ngập lụt. 5 Chương III: Mô hình nghiên cứu. Nội dung chương nêu tổng quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, vấn đề biến đổi khí hậu ảnh hưởng như thế nào đến TPHCM, thực trạng ngập nước tại TPHCM, xác định các rủi ro do ngập nước gây ra, xây dựng sơ đồ phân tích. Trình bày xây dựng bảng hỏi, cách lấy số liệu, mô hình kinh tế lượng và quy trình nghiên cứu.
Chương IV: Kết quả nghiên cứu. Trình bày kết quả của việc thu thập dữ liệu sơ cấp, sử dụng phương pháp thống kê mô tả để trình bày dữ liệu thu thập đượcc; kết quả chạy mô hình hồi quy logistic để phân tích số liệu. Chương V: Kết luận, đúc kết nghiên cứu và nêu lên khuyến nghị đối với chính quyền địa phương, nhân dân và chính phủ đối với vấn đề ngập lụt hiện nay và trong những năm tới. 6 Chƣơng II CƠ SỞ LÝ THUYẾT Vấn đề khả năng thích ứng của hộ gia đình đối phó với tình trạng ngập nước tại Thành phố Hồ Chí Minh được tìm hiểu trên cơ sở lý thuyết về nhận thức rủi ro và khả năng thích ứng.
Hai lý thuyết này phân tích về nhận thức của con người trước những rủi ro theo các khía cạnh khác nhau, từ nhận thức dẫn đến thái độ và hành vi tương ứng để đối phó, chống lại rủi ro do thiên tai, môi trường gây ra. Nhận thức rủi ro ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng thích ứng, nhận thức có thể thay đổi theo thời gian dẫn đến những hành vi thích ứng trong quá khứ có thể được lựa chọn để sử dụng lại hoặc thay đổi trong hiện tại và tương lai. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng tìm hiểu, kế thừa kết quả của nghiên cứu trước đó về nhận thức rủi ro, khả năng thích ứng với tình trạng ngập nước, lũ lụt, thiên tai trên thế giới để có mô hình lý thuyết phù hợp. Nhận thức rủi ro Nhận thức rủi ro 5 là đánh giá chủ quan của con người về những đặc điểm và mức độ nghiêm trọng của một rủi ro.
Cụm từ “Nhận thức rủi ro” thường được sử dụng trong tài liệu về thiên tai và các mối đe dọa của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe, ví dụ như đồng hành với việc phát triển năng lượng hạt nhân là sự đe dọa đến sức khỏe của con người và ô nhiễm môi trường. Một số giả thuyết đã được đưa ra để giải thích lý do tại sao con người có những ước tính khác nhau đến độ nguy hiểm của các rủi ro. Ba vấn đề lớn của lý thuyết này đã được tiếp cận bao gồm: 1. Phương pháp tâm lý học (đánh giá kinh nghiệm và nhận thức).
Phương pháp tiếp cận xã hội học (lý thuyết văn hóa). Phương pháp tiếp cận liên ngành học thuật (khung phân tích rủi ro mở rộng đến các vấn đề xã hội). Trước 1960, các nghiên cứu về nhận thức rủi ro chưa được quan tâm do các chuyên gia và người dân thường bất đồng ý kiến về tác động của những rủi ro kỹ thuật công nghệ và hiểm họa tự nhiên đến cuộc sống người dân. Giữa thập niên 1960 chứng kiến sự gia tăng 5 http://en.org/wiki/Risk_perception 7 nhanh chóng của công nghệ hạt nhân, hứa hẹn cho năng lượng sạch và an toàn.
Tuy nhiên, người dân cảm thấy sợ hãi do chất phóng xạ tác động nguy hiểm đến môi trường, tạo ra thảm họa bệnh phóng xạ, làm cho người dân quay lưng, chống lại công nghệ mới này. Các nhà khoa học và Chính phủ thắc mắc vì sao người dân chống lại việc sử dụng năng lượng hạt nhân trong khi tất cả các chuyên gia khoa học đã tuyên bố thực sự an toàn. Đây chính là vấn đề, do quan điểm của các chuyên gia, đã tạo nên sự khác biệt giữa sự kiện khoa học và do nhận thức công chúng phóng đại những mối nguy hiểm.6 Kết quả đầu tiên được nghiên cứu bởi Chauncey Starr (1969) 7.Ông sử dụng phương pháp “khám phá ưu tiên” để tìm ra những rủi ro nào có thể được xã hội chấp nhận. Starr cho rằng xã hội đã đạt đến trạng thái cân bằng trong phán quyết của rủi ro, vì vậy mức độ rủi ro nào thực sự tồn tại trong xã hội sẽ được chấp nhận.
Phát hiện chính của ông là con người có thể chấp nhận rủi ro lớn hơn 1.000 lần nếu họ tự nguyện (ví dụ như lái xe) còn hơn là họ không tự nguyện (ví dụ như thảm họa hạt nhân). Douglas và cộng sự (1985) cho rằng giả định rằng các cá nhân cư xử theo một cách hợp lý, đo lường trọng lượng thông tin trước khi quyết định. Cá nhân nào có thông tin không đầy đủ hoặc không chính xác thường lo ngại và phóng đại rủi ro. Ngụ ý trong giả định này là việc cung cấp thông tin có thể giúp mọi người hiểu nguy cơ thực sự và làm giảm bớt những suy nghĩ về nguy hiểm.
Freudenburg và cộng sự (1993) cho rằng trong khi các nhà nghiên cứu trong các trường kỹ thuật đã tiên phong nghiên cứu nhận thức rủi ro bởi lý thuyết thích nghi từ các nhà kinh tế - lý thuyết ít sử dụng trong thực tế. Nhiều nghiên cứu đã bác bỏ, không tin việc bổ sung thông tin sẽ tác động đến nhận thức cá nhân. Phƣơng pháp tiếp cận tâm lý học Tversky và cộng sự (1974) cho rằng cách tiếp cận tâm lý học bắt đầu từ nghiên cứu để hiểu cách mọi người xử lý thông tin như thế nào. Các nghiên cứu ban đầu cho rằng con người sử dụng phương pháp kinh nghiệm trong phân loại và đơn giản hóa thông tin dẫn đến những sai lệch trong nhận thức.
Các nghiên cứu sau được xây dựng trên nền tảng này và trở thành mô hình tâm lý. Cách tiếp cận này xác định rất nhiều yếu tố ảnh hưởng 6 Douglas, Mary. Risk Acceptability According to the Social Sciences. Russell Sage Foundation, 1985 7 Social Benefits versus Technological Risks" in Science Vol.
1232-1238 8 đến trách nhiệm cá nhân trong nhận thức rủi ro, bao gồm cả sự sợ hãi, không thích cái mới, kỳ thị, và nhiều yếu tố khác. Một điều thú vị khám phá ra từ các nghiên cứu trước đó là lý thuyết “che phủ”, lý thuyết này cho rằng cảm xúc được phân thành nhóm như tích cực, chẳng hạn như hạnh phúc và hy vọng, hay tiêu cực, chẳng hạn như nỗi sợ hãi và tức giận. Theo lý thuyết “che phủ”, nhận thức lạc quan là do cảm xúc tích cực trong khi cảm xúc tiêu cực làm ảnh hưởng đến một cái nhìn bi quan hơn về rủi ro. (Lerner và cộng sự, 2000) Các nghiên cứu tâm lý đầu tiên đã được thực hiện bởi nhà tâm lý học Daniel Kahneman và Amos Tversky (1974), người thực hiện một loạt các thí nghiệm đánh bạc để xem cách mọi người đánh giá xác suất.
Phát hiện chính là con người sử dụng việc chẩn đoán con số để đánh giá thông tin. Các chẩn đoán thường là biểu tượng hữu ích cho tư duy, nhưng có thể dẫn đến kết quả không chính xác trong một số trường hợp - trong trường hợp này trở thành những thành kiến trong nhận thức. • Tính đại diện: thường được sử dụng khi người ta được yêu cầu đánh giá xác suất mà một đối tượng hoặc sự kiện thuộc về một nhóm/quy trình bị tác động tương tự: thiếu hiểu biết về xác suất; sai lầm khi chọn mẫu; chưa đánh giá đúng cơ hội; dự đoán sai; ảo tưởng về giá trị; hồi quy sai. • Tính khả dụng của kinh nghiệm: sự kiện có thể được dễ dàng hơn khi được tưởng tượng được đánh giá là có nhiều khả năng hơn so với các sự kiện có thể không dễ dàng tưởng tượng: việc phục hồi trong một số trường hợp; hiệu quả nghiên cứu bị lệch; tưởng tượng bị lệch; kết quả hồi quy sai.
• Nguồn tin cập nhật và điều chỉnh theo kinh nghiệm: thường sẽ bắt đầu với một đoạn thông tin được biết đến và sau đó điều chỉnh nó để tạo ra một ước tính nguy cơ - nhưng việc điều chỉnh thường sẽ không đủ lớn: điều chỉnh thiếu sót; thành kiến trong việc đánh giá các sự kiện ( kết hợp sai lầm); đánh giá phân bố xác suất chủ quan nguồn tin cập nhật. • Bất đối xứng giữa tăng và giảm: con người sợ rủi ro đối với mong muốn thành công, thích một điều chắc chắn hơn một canh bạc với tiện ích cao hơn mong đợi nhưng trong thực tế khả năng không có gì. Mặt khác, con người sẽ có nguy cơ tìm kiếm về 9 những mất mát, thích hy vọng cho cơ hội bị mất hơn là chấp nhận một cách chắc chắn, nhưng nhỏ hơn sự mất mát (ví dụ như bảo hiểm ). • Hiệu ứng ngưỡng: Con người thích di chuyển từ sự không chắc chắn đến sự chắc chắn hơn là làm điều tương tự để làm tăng sự chắc chắn, điều đó không dẫn đến kết quả như mong muốn.
Ví dụ, hầu hết mọi người sẽ chọn một loại vắc-xin làm giảm tỷ lệ mắc bệnh A từ 10 % xuống 0% trong một ngày mà làm giảm tỷ lệ mắc bệnh B từ 20 % đến 10 %. Một phát hiện quan trọng là các chuyên gia không ước tính xác suất tốt hơn người dân. Các chuyên gia thường quá tự tin trong tính chính xác của các ước tính của họ, và đặt quá nhiều xác xuất trong các mẫu nhỏ dữ liệu. (Slovic et al, 1982) Theo Slimak & Dietz (2006) đa số người dân trong cộng đồng thể hiện một mối quan tâm lớn hơn cho các vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày như chất thải nguy hại, thuốc trừ sâu…, quan tâm đến các vấn đề dài hạn có thể ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai như biến đổi khí hậu, tăng trưởng dân số.
Cộng đồng thường dựa vào khoa học để đánh giá mối đe dọa của các vấn đề môi trường bởi vì họ thường không trực tiếp trải nghiệm những ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu. Tiếp xúc với mọi người có nhận thức biến đổi khí hậu, hầu hết mọi người chỉ có kinh nghiệm ảo mặc dù tài liệu và phương tiện truyền thông thường xuyên đưa tin.