Đặt vấn đề Trong bối cảnh nền sản xuất cây ăn quả đã và đang có nhiều đóng góp quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và đời sống người nông dân nói riêng nhưng cũng phải đang đối đầu với nhiều rủi ro, thách thức, sự cạnh tranh thương mại ngày càng trở nên gay gắt, việc lựa chọn đối tượng, chủng loại giống có lợi thế, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương, của vùng và các vấn đề công nghệ then chốt luôn luôn được đặt lên hàng đầu (Ngô Xuân Bình, 2010)[11]. Sản phẩm hoa quả là một trong những loại sản phẩm có ý nghĩa quan trọng và không thể thiếu được trong tiêu dùng hàng ngày của con người. Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu đó cũng càng ngày càng tăng. Trong các sản phẩm về hoa quả thì cây ăn quả có múi luôn có một vị trí quan trọng và chiếm tỉ trọng lớn nhất.
Cây Bưởi (Citrus grandis L.Osbeck) có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á, là một loại quả thuộc chi Cam chanh, thường có màu xanh lục nhạt cho tới vàng khi chín, có múi dày, tép xốp, có vị ngọt hoặc chua ngọt tùy loại. Bưởi là một trong những loài cây ăn quả có múi được trồng phổ biến ở khu vực châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ,Việt Nam,Thái Lan, Malaysia, Philippin,. Hiện nay ở Việt Nam cây ăn quả được xem là đối tượng quan trọng tham gia tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện môi trường sinh thái. Bưởi còn là nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến quả tươi còn là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị cao đóng góp cho nền kinh tế đất nước.
Thực tế cho thấy, cây bưởi sau trồng 4 đến 5 năm có thể thu lãi 40 - 100 triệu đồng/ha/năm, năng suất có thể đạt 250 quả/cây ở vườn có mật độ 400 - 500 cây/ha. Luan van 2 Quả bưởi còn có giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu rất lớn đối với con người, ứng dụng trong y học cổ truyền của dân tộc. Trong 100 gam phần ăn được có: 89 gam nước, 0,5 gam protein, 0,4 gam chất béo, 9,3 gam tinh bột, 49 IU vitamin A, 0,07 mg vitamin B1, 0,02 mg vitamin B2, 0,4 mg niacin và 44 mg vitamin C (Vũ Công Hậu, 1996)[23]. Trong lá, hoa, vỏ quả bưởi đều chứa tinh dầu.
Vỏ quả bưởi có pectin, naringin (một loại glucozid), men tiêu hoá peroxydaza và amylaza, đường ramoza, cùng nhiều loại men tiêu hóa amylaza, peroxydaza. Chính vì vậy mà cây bưởi còn là thứ dược liệu quan trọng trong đời sống của con người (Đỗ Tất Lợi, 2006)[6]. Yên Bái là một tỉnh miền núi có điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp phát triển rừng và các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, trong đó cây ăn quả có múi khoảng 6. Với tập đoàn cây ăn quả đa dạng, phong phú đều có thể phát triển được trên các loại đất đồi gò, đất ven sông bãi.
Diện tích cây ăn quả phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh và hình thành các vùng sản xuất mang tính đặc thù tại Văn Chấn, Lục Yên và Yên Bình. sản lượng hàng năm đạt khoảng hơn 29.000 tấn, đem lại nguồn thu đáng kể cho nông dân[45]. Xã Tân Nguyên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái là vùng sản xuất bưởi còn ít, mang tính tự phát, chưa có định hướng, chưa được hướng dẫn và đầu tư thâm canh đầy đủ, chưa có thị trường tiêu thụ ổn định. Giống bưởi Đỏ Tân Lạc là giống có quả hình tròn, vỏ màu hồng khi chín múi bưởi có màu hồng đỏ, quả có khối lượng trung bình từ 1,2 kg – 1,4 kg.
Tép bưởi Tân Lạc có màu đỏ hồng, bó chặt, dễ tách, ăn rất giòn ngọt và không bị he đắng. Cây bưởi đỏ Tân Lạc (bưởi đào Tân Lạc) cho năng suất rất cao và ổn định, với cây 7 năm tuổi cho năng suất từ 260 – 320 quả/cây. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của giống bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”. Mục đích và yêu cầu của đề tài Mục đích: Đánh giá khả năng sinh trưởng của bưởi đỏ Tân Lạc.
Yêu cầu: - Theo dõi các đặc điểm hình thái của 2 giống bưởi nghiên cứu. - Nghiên cứu các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của 2 giống bưởi. - Theo dõi, đánh giá tình hình sâu và bệnh hại. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Rèn luyện và nâng cao khả năng thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cho sinh viên, là một cơ sở và tiêu chí cho việc đánh giá chất lượng sinh viên của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Kết luận của đề tài là cơ sở để xây dựng quy trình và định hướng phát triển bưởi tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Bước đầu đưa ra được các đánh giá về khả năng thích ứng của giống bưởi đỏ Tân Lạc. - Đánh giá khả năng chống chịu và triển vọng của giống.
- Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để xây dựng và mở rộng mô hình diện tích trồng bưởi đỏ tại Yên Bái. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Yên Bái là một tỉnh thuộc vùng miền núi phía Bắc, được coi là tỉnh có tiềm năng phát triển nhiều loại cây ăn quả, trong đó cây ăn quả có múi. Tuy nhiên, nếu so sánh năng suất và chất lượng các giống cây ăn quả có múi nói chung và cây bưởi nói riêng thấy rằng: năng suất và chất lượng bưởi của Việt Nam còn khá thấp so với các vùng trồng bưởi trên thế giới.
Đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc trong đó có Yên Bái, với điều kiện thiên nhiên ưu đãi phù hợp cho trồng bưởi, nhưng năng suất, chất lượng của các giống địa phương còn rất thấp. Do đó, việc theo dõi khả năng sinh trưởng và phát triển của giống bưởi đỏ là rất cần thiết trong công tác chọn giống, nhất là với những giống cây mới được tuyển chọn. Để có giống bưởi mới đáp ứng được yêu cầu sản xuất của tỉnh Yên Bái, đề tài đã tiến hành đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Nguồn gốc, phân loại của cây bưởi Cây bưởi có tên khoa học là Citrus grandis (L).
Trong hệ thống phân loại bưởi thuộc: Bộ: Rutale Họ: Rutaceae Họ phụ: Aurantioideae Chi: Citrus Chi phụ: Eucitrus Loài: Citrus grandis (bưởi) và Citrus paradisi (bưởi chùm). Luan van 5 Bưởi (C.grandis) quả to nhất trong các loài cam quýt, vị chua hoặc ngọt, bầu có từ 13 - 15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều. Hiện nay các giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi và được trồng chủ yếu ở các nước: Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Trung Quốc. Việt Nam có rất nhiều giống bưởi nổi tiếng như bưởi Đoan Hùng, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi, bưởi Diễn (Bùi Huy Đáp, 1960)[2].paradisi) được đánh giá là dạng con lai tự nhiên của bưởi (C.grandis), vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống với bưởi (C.grandis) nhưng lá nhỏ hơn, eo cũng nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ.
Bưởi chùm cho những giống ít hạt, phần lớn các giống bưởi chùm có hạt đa phôi nên cũng có thể sử dụng làm gốc ghép (Vũ Việt Hưng, 2011)[25]. Quả bưởi chùm là món ăn tráng miệng rất được ưa chuộng ở châu Âu, người ta gọt nhẹ lớp vỏ mỏng bên ngoài rồi để cả cùi cắt thành các lát nhỏ dùng sau bữa ăn (Lovatt và cs, 1984)[36]. Bưởi chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil, riêng bang Florida, Mỹ chiếm 70% sản lượng bưởi chùm của thế giới. Ở Việt Nam bưởi chùm chưa được ưa chuộng.
Đặc điểm sinh học của cây bưởi Theo Walter Reuther và cs (1978)[39] thì vòng đời của cây ăn quả có múi (cam, quýt, bưởi,…) thường trải qua 3 giai đoạn: giai đoạn cây con, giai đoạn ra hoa kết quả và thời kỳ già cỗi. Tùy điều kiện sinh sống , hình thức nhân giống mà tuổi cây bưởi có thể dài hay ngắn. Nhìn chung khi còn ở giai đoạn cây con sự sinh trưởng có phần nghiêng về bộ rễ (Trần Thế Tục, 1990)[17]. Bưởi thuộc loài cây thân gỗ nhỏ, sống đa niên (có thể đến 30 năm).
- Bộ rễ: Rễ bưởi thuộc loại rễ trụ có rễ nhánh phát triển. Nhìn chung rễ bưởi ăn nông từ (0 - 30 cm) và hoạt động mạnh sau khi trồng từ 1 - 8 năm, sau đó giảm dần và khả năng tái sinh kém, ở Việt Nam rễ bưởi phát triển rất mạnh từ tháng 2 - 9 và hoạt động mạnh vào 3 thời kỳ: tháng 2 - 3, tháng 6 - 8 và tháng 10. Luan van 6 - Thân: Bưởi là loài cây to, cao trung bình khoảng 3 - 4 m ở tuổi trưởng thành, vỏ thân có màu vàng nhạt, ở những kẽ nứt của thân đôi khi có chảy nhựa. Trong một năm cam quýt có thể ra nhiều đợt lộc tùy vào từng vùng, giống, tuổi cây và những tác động kỹ thuật của con người, thông thường có từ 2 - 4 hoặc 5 đợt lộc.
Loại cành mẹ và số đợt lộc trong năm liên quan đến hiện tượng ra quả cách năm. Ở nhưng loại cây có nhiều đợt lộc trong năm, tuổi thành thục của cành mẹ để có thể sinh ra cành quả càng ngắn thì hiện tượng ra quả cách năm càng ít hoặc không có. Tùy từng giống, tùy cây và điều kiện khí hậu, chăm sóc mà lượng cành và thời gian ra các đợt cành này có sự thay đổi, cành non có thể có thể quang hợp được, trong các đợt cành thì cành xuân thường ra đều, tập trung và cành ngắn, còn cành hè thường khỏe, lá to, dài nhưng rải rác hơn, cành thu kém hơn cành hè và cành đông thì yếu ớt (Trần Như ý và cs, 2000)[16]. Cành cam quýt có 2 loại : cành mẹ, cành dinh dưỡng, cành quả (Đào Thanh Vân và cs, 2000)[4].
Cành mẹ: sinh ra cành quả có thể là cành Xuân, cành Hè, hoặc cành năm trước. Cành quả tùy giống mà cành quả có độ dài từ 3 – 25 cm thông thường từ 3 – 9 cm. Cành dinh dưỡng cành không ra hoa, quả, chỉ có lá xanh làm nhiệm vụ chính là quang hợp. Ngoài ra còn có cành vượt, cành vô hiệu.
Đây là các cành thường không đem lại hiệu quả cho cây trồng nên cần được loại bỏ. - Lá: Lá bưởi thuộc loại lá kép, mép có răng cưa và có eo lá.