Đặt vấn đề Cùng với sự gia tăng dân số ngày một cao thì bệnh tật, sinh vật, côn trùng gây hại đến sức khỏe con người và cây trồng đang trở thành vấn nạn trên khắp thế giới. Do vậy, ngày nay thế giới đang có xu hướng chuyển dần sang việc sử dụng các hợp chất từ thiên nhiên để tiêu diệt các loại vi sinh vật, sâu bọ, côn trùng… bảo vệ sức khỏe của con người cũng như mùa màng. Việc tổng hợp ra các loại sản phẩm mới (kháng sinh, chế phẩm diệt côn trùng, sâu bọ…), đặc biệt là các sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên để giải quyết vấn đề trên trở thành một nhiệm vụ vô cùng cấp bách. Do có nguồn gốc từ thiên nhiên nên các loại sản phẩm này an toàn đối với sức khỏe con người và môi trường, nguồn nguyên liệu thì dồi dào, ổn định, rẻ tiền….
Hiện nay, các loại kháng sinh, chế phẩm diệt côn trùng …có nguồn gốc hóa học đang được sử dụng chủ yếu để chống lại các vi sinh vật, côn trùng gây bệnh nhưng hầu hết các loại sản phẩm này ngày càng có những tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người và môi trường. Chính vì thế việc tạo ra một loại sản phẩm sinh học mới, an toàn hơn và là một sản phẩm từ thiên nhiên nhằm chống lại các tác nhân gây hại trên đang được sự ủng hộ mạnh mẽ của toàn thế giới. Trong thiên nhiên có rất nhiều loại thực vật có hoạt tính sinh học xuất phát tử các bộ phận như: rể, thân, lá, quả, hạt,…. Từ xa xưa, ông cha ta đã biết dùng những cây cỏ quen thuộc (lá Ổi non, Cam thảo, Quế, ….) để chữa một số bệnh thông thường như các bệnh đường tiêu hóa, hô hấp, trị mụn, rửa vết thương,….Trong đó có nhiều loại có dược tính nhưng vẫn chưa được phát hiện và ứng dụng trong y học và các lĩnh vực khác.
Bên cạnh đó, việc sản xuất các sản phẩm sinh học có nguồn nguyên liệu từ thiên nhiên có hoạt tinh sinh học ứng dụng trong nông nghiệp là một vấn đề cũng cần được quan tâm nhưng chưa được nghiên cứu nhiều. 2 Hiện nay, ở nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung, do sự biến đổi khí hậu toàn cầu cùng với sự gia tăng dân số quá nhanh và ô nhiễm môi trường ngày càng tăng làm cho số lượng, chủng loại các vi sinh vật và côn trùng gây bệnh cho người và cây trồng cũng tăng đáng kể. Trong đó phải kể đến các loại như vi sinh vật như: Escherichia coli, Staphylococcus aureus,…và côn trùng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người. Ngoài các loại vi sinh vật kể trên còn phải kể đến các loại sinh vật trung gian truyền bệnh cho người và gây hại cho cây trồng, mà đặc biệt là muỗi, nguyên nhân dẫn đến bệnh sốt xuất huyết, số rét…là những căn bênh nguy hiểm, hằng năm đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người.
Ngày nay, tuy đã đã có nhiều biện pháp phòng trừ nhưng hiệu quả chưa cao và chưa thật sự an toàn. Việc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc hóa học để phòng trừ tuy có hiệu quả nhưng có nhược điểm: làm tăng khả năng kháng thuốc, tiêu diệt luôn cả các sinh vật có ích, để lại dư lượng thuốc trong thực phẩm, gây ô nhiểm môi trường,… Vì những lý do trên nên chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tính kháng khuẩn và kháng côn trùng của dịch chiết từ cây Bình Bát (Annona reticulate L.) và cây Muồng Trâu (Cassia alata L.2 Mục đích của đề tài Khảo sát khả năng diệt hai loại vi khuẩn đặc trưng: Staphylococcus aureus, Escherichia coli và diệt côn trùng (Lăng quăng) của dịch chiết từ lá cây Bình Bát (Annona reticulata L.) và cây Muồng Trâu (Cassia alata L. Từ đó có có thể ứng dụng trong lĩnh vực y học và nông nghiệp,… 1.3 Yêu cầu - Thu nhận dịch chiết thô từ các bộ phận khác nhau của cây Bình Bát và Muồng Trâu bằng các dung môi khác nhau. - Khảo sát khả năng kháng khuẩn (Escherichia coli và Staphylococus aureus) và diệt Lăng quăng ở các nồng độ dịch chiết khác nhau.
- Đánh giá khả năng kháng khuẩn và diệt Lăng quăng của dịch chiết. 3 - So sánh khả năng kháng các loại khuẩn và diệt lăng quăng ở những bộ phận khác nhau của cây khảo sát ở các nồng độ dịch chiết. 4 Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÂY BÌNH BÁT 2.1 Vị trí phân loại thực vật ˗ Tên khoa học : Annona reticulata L.2 Đặc điểm thực vật học của cây Bình bát Hình 2.1 Cây Bình bát (Nguồn: <http://yume.vn/news/du-lich/doc-duong-van-hoa/binh-bat-dam- duong.html) 5 ˗ Bình bát (Annona reticulata L.), hay còn gọi là cây nê, họ na (Annonaceae). Cây gỗ nhỏ, cao 2 – 5m, thậm chí đến 10m.
Cành non có lông, cành già nhẵn. ˗ Lá đơn, mọc so le, hình mác thuôn, đầu nhọn, mặt trên nhẵn màu lục bóng, mặt dưới có ít lông thưa, lá có 8 – 9 cặp gân phụ, dài 10 – 15cm, rộng 5 – 10 cm. ˗ Cụm hoa gồm 2 – 4 hoa màu vàng, cánh hoa hẹp, nhiều nhị đực và tâm bì. ˗ Quả hình tim, mặt ngoài hơi nhám, có từng ô 5 góc mở, khi chín màu vàng hoặc vàng pha đỏ, thịt quả ăn được.
˗ Mùa ra hoa là tháng 5, mùa ra quả là tháng 8.3 Nguồn gốc-phân bố ˗ Có nguồn gốc từ Trung Mỹ, Nam Mexico, Brazil và Peru. Ngoài ra còn có ở Ấn Độ, Inđônêxia, Việt Nam,… ˗ Tại Việt Nam cây mọc chủ yếu ở miền Nam, chỗ đất ẩm mát. Đây là loại cây tạp, thân gỗ nhỏ, sống thọ hàng chục năm, khả năng tái sinh chồi cực kỳ mạnh và chồi cũng lớn rất nhanh, có hệ thống rễ tương đối phát triển và chịu được điều kiện ngập nước trong thời gian khá dài.4 Bộ phận sử dụng ˗ Toàn bộ cây Bình bát.5 Thành phần hóa học ˗ Trái Bình bát ngoài vị ngọt thanh còn chứa: vitamin C, vitamin A,vitamin B6, nước, protein, carbohydrate, magnesium, potassium, chất xơ, acid béo bậc cao. Trái Bình bát xanh có chứa nhiều tannin, carotene… ˗ Theo tiến sĩ Trương Phương (2002), các nhà khoa học thuộc Khoa Dược học, Trường Đại học Y Dược TP HCM tìm ra trong vỏ thân cây Bình bát có chứa 0,03 – 0,12% anonaxin, một hoạt chất mới có tác dụng chống ung thư.6 Tác dụng dược lý – Công dụng ˗ Theo tờ báo Diet Health Club, trái Bình bát ngoài vị ngọt thanh còn chứa: vitamin C giúp chống gốc tự do gây lão hóa sớm; vitamin A giúp da và tóc 6 khỏe, hỗ trợ thị lực; vitamin B6, magnessium, potassium, chất xơ, tốt cho hệ tim mạch, hệ tiêu hóa, có tác dụng lợi tiểu và giảm trầm cảm; có tính giảm co thắt, giảm acid tại các khớp xương.
˗ Trái Bình bát xanh có chứa nhiều tannin, được sấy khô, nghiền thành bột dùng chữa tiêu chảy và bệnh lỵ. Vỏ cây giã nát dùng đắp quanh nướu răng để làm giảm nhức răng. Nước sắc vỏ cây bình bát được dùng như thức uống giải nhiệt. ˗ Theo kinh nghiệm dân gian: + Trái Bình bát chín ăn nhiều trị được bệnh khí hư (huyết trắng) ở phụ nữ, chứng thiếu máu.
+ Hạt Bình bát từ những trái già, giã nhỏ, nấu với nước làm nước gội đầu (không nên để nước bắn vào mắt), hoặc ngâm quần áo để trừ chí, rận. Ngoài ra, hạt Bình bát đốt thành tro, trộn với dầu dừa bôi chữa ghẻ rất hay. ˗ Theo Lê Bảo Ngọc (2011), học sinh lớp 12A12 Trường THPT Bảo Lộc (Lâm Đồng), đã nghiên cứu và sáng chế thành công thuốc trừ sâu sinh học từ hạt cây Bình bát có tác dụng trừ sâu và thân thiện với môi trường, không ảnh hưởng đến sức khỏe con người.2 GIỚI THIỆU VỀ CÂY MUỒNG TRÂU 2.1 Vị trí phân loại thực vật ˗ Tên khoa học: Cassia alata L. ˗ Giới (regnum): Plantae ˗ Bộ (ordo): Fabales ˗ Họ (familia): Fabaceae ˗ Chi (genus): Senna ˗ Loài (species): Senna alata 2.2 Đặc điểm thực vật học của cây Muồng trâu 7 ˗ Cây Muồng trâu có tên khoa học là Cassia alata L.
Trong dân gian còn gọi là Trong bhang, Ana draobhao (Buôn Mê Thuột), dâng hét, tâng hét, dang hét khmoch (Campuchia), khi lek ban (Lào), Muồng lác, …. ˗ Cây Muồng trâu thuộc dạng cây thảo. Cây cao 1,5m - 3m, thân gổ mềm có đường kính 10 - 12cm hoặc hơn. ˗ Lá kép lông chim chẵn, dài 30 - 40cm, có 8 - 14 đôi lá chét.
Lá chét hình trứng, gốc và đỉnh lá đều tròn, to dần về phía ngọn. Đôi lá chét đầu tiên (phía cuống) nhỏ nhất và cách đôi lá chét thứ hai một quãng hơi xa hơn so với quãng cách giữa các đôi lá chét sau. Lá chét trên cùng có thể dài đến 12 - 14cm, rộng 5 - 6cm. Mặt trên lá màu xanh đậm, mặt dưới lá màu xanh nhạt hơn, hai mặt nhẵn.
Cuống lá ngắn hơi phình to ở gốc, có lông mịn, không tuyến, gân lá hình lông chim.2 Cây Muồng trâu (Nguồn: <http://suckhoedoisong.vn/20120904085148400p44c60/cay-muong-trau- chua-benh-ngoai-da-va-lam-thuoc-nhuan-trang.htm>) 8 ˗ Cụm hoa mọc thành bông dày đặc nhiều hoa. Bông dài 30 - 40cm. Hoa màu vàng sẫm. Phát hoa nở suốt năm, ngoại trừ những lúc khí hậu khô.
Lá và hoa có mùi hôi. Trái loại đậu dài 8 - 16cm rộng 15 - 17mm. Trái có tới 60 hạt. Hạt hình tam giác, màu nâu xanh.3 Nguồn gốc, phân bố ˗ Cây muồng trâu có nguồn gốc ở vùng Mỹ nhiệt đới.
Cây Muồng trâu được trồng và mọc lan rộng khắp mọi vùng nóng trên địa cầu. ˗ Tại Việt Nam cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi, nhiều nhất ở các tỉnh miền Nam, miền Trung.4 Bộ phận dùng ˗ Lá, hạt Muồng trâu phơi hay sấy khô. Ngoài ra còn dùng cành và rễ.5 Thành phần hóa học ˗ Trong 100g lá Muồng Trâu có chứa 0,57 – 1,43g protein, đường khử 4,16 – 6g, lipid 7,82 – 10,51g, cellulose 8,35 – 15,2g, vitamin C 0,97 – 1,362g. Các acid béo không no khoảng 60%, lượng acid béo toàn phần chủ yếu gồm các acid béo 18 carbon.
Ngoài ra, còn có các chất như Ca, Mg, Na, Mn, trong đó Ca chiếm tỷ lệ cao nhất (17mg/100g). ˗ Trong lá, quả, gỗ và hạt đều có chứa chất antraglucozit. Trong quả tỷ lệ antraglucozit lên tới 2,20% (theo Maurin). Trong lá tỷ lệ là 3-4% (theo Đinh Đức Tiến, 1963).
Ngoài ra trong lá, quả và rễ đều có chứa các dẫn chất anthraquinon. Có hàm lượng 0,15-0,20% ở lá, 1,5-2% ở quả. ˗ Trong lá có chrysophanol, aloe emodin, rheine emodin; có flavonoid là kaempferol, acide chrysophanique (trị lát rất tốt). 9 ˗ Từ dịch chiết cồn của lá Muồng trâu, Planichamy S.
(1990) đã tách riêng một flavonglucosid là kaempferol - 3 – O – sophorosid. Chất này có hoạt tính chống viêm khá mạnh.