CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở triết học Từ rất lâu, việc nghiên cứu tiềm năng sáng tạo trong mỗi con người đã được các nhà khoa học đặt ra. Nhà triết học cổ đại Hi Lạp Socrate (469- 399 TCN) đã cho rằng cái làm nên con người không phải là thể xác mà là linh hồn. “Con mắt” của linh hồn là lí trí và hoạt động của linh hồn là “tri thức có tính cách suy lí”.
Tri thức có tính cách suy lí là nguyên nhân sắp đặt mọi sự, là “sự giải thoát con người” và là “nền tảng của đức hạnh”. Ông cho rằng tri thức có sẵn trong linh hồn con người ở trạng thái tiềm năng. Giáo huấn chỉ là việc đánh thức trong con người những tri thức còn ngủ yên chứ không phải đem tri thức của mình đặt vào lòng kẻ khác. Ông quan niệm : Mỗi người đều có khả năng đạt tới chân lí và người thầy chỉ là “bà đỡ”, giúp học trò “sản ý”, sáng tạo tri thức.
Do đó, dạy học không phải là truyền đạt tri thức từ ngoài vào trí óc kẻ khác mà chỉ là gợi lên những gì vốn đang tiềm ẩn trong trí tuệ và tâm hồn họ. Người thầy phải biết tôn trọng trí tuệ và tự do của mỗi cá thể học trò. “Cưỡng bách kẻ khác” tiếp nhận tri thức không phải từ chính họ là “hủy diệt trí tuệ và tự do của họ”. Cách dạy học như thế được Socrate gọi là “phương pháp hộ sinh”.
Triết học Mác-Lê nin ra đời vào thế kỉ XVIII-XIX đã khẳng định: ngoại lực dù là yếu tố vô cùng quan trọng và lợi hại, nhưng cũng chỉ là yếu tố có vai trò hỗ trợ, tạo điều kiện thúc đẩy mà thôi, còn nội lực mới là yếu tố đóng vai trò quyết định tới sự phát triển của bản thân sự vật.Mác cho rằng thế giới là vận động, nhưng sự vận động ấy chỉ có ý nghĩa khi đó là sự vận động tự thân của sự vật. Sự phát triển của một sự vật sẽ đạt đến đỉnh điểm chỉ khi có sự kết hợp, cộng hưởng giữa hai yếu tố nội lực và ngoại lực. Ngày nay, khoa học nghiên cứu về tiềm năng con người với sự hỗ trợ của nhiều thiết bị công nghệ hiện đại đã chỉ ra rằng con người là một tiềm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng vô tận. Con người chưa bao giờ sử dụng hết sức mạnh trí tuệ và tiềm năng bộ óc của mình, cho dù có là bộ óc vĩ đại nhất, có nhiều cống hiến cho nhân loại nhất.
Điều đó cũng có nghĩa khả năng của con người là vô hạn, nội lực của con người là vô tận. Chính vì vậy mà vấn đề đặt ra là phát huy khả năng và nội lực của con người như thế nào ? Sự phát triển về mặt nhận thức của học sinh có sự tham gia của cả ngoại lực và nội lực. Nếu lấy ngoại lực làm yếu tố cơ bản, quyết định quá trình học tập của học sinh thì người thầy cùng với hoạt động dạy sẽ trở thành trung tâm của quá trình dạy học. Khi đó, giáo viên sẽ đóng vai trò là người “truyền giáo”, là người “biết tất”, là người “rót” kiến thức vào cái phễu học sinh.
Giáo viên khi ấy sẽ là chủ thể của kiến thức. Giờ dạy học chỉ bắt đầu và hoàn toàn bằng nguồn kiến thức duy nhất của giáo viên mà thôi, trong khi học sinh chỉ đơn thuần như những cái “bình chứa” chờ thầy “đổ”, “nhồi nhét” kiến thức vào… Ngược lại, nếu coi nội lực là yếu tố hạt nhân quyết định sự thành công của quá trình dạy học thì học sinh cùng với hoạt động học sẽ trở thành trung tâm của quá trình đó. Lúc này, học sinh sẽ chủ động tham gia vào quá trình dạy học dưới sự dẫn dắt, điều khiển của giáo viên. Họ sẽ có cơ hội để bộc lộ và phát huy hết khả năng của mình trong hành trình tìm kiếm và khám phá chân lí khoa học.
Học sinh sẽ độc lập, chủ động tìm hiểu và khám phá, chiếm lĩnh kiến thức dựa trên cơ sở khoa học và tư duy logic, liên tưởng, tưởng tượng. Trung tâm của giờ dạy học đương nhiên sẽ chuyển về phía học sinh. Tiềm năng sáng tạo của các em được phát huy tối đa. Từ những gì vừa phân tích trên đây, chúng ta có thể xác định việc coi học sinh là chủ thể sáng tạo, là yếu tố nội lực quyết định quá trình vận động và phát triển của bản thân học sinh là quan điểm có cơ sở lí luận và khoa học sâu sắc.
Với quan điểm này, lối học thụ động dần dần sẽ mất ưu thế mà thay vào đó là hướng tiếp cận độc lập, chủ động, sáng tạo từ phía người học sinh. Đặc biệt trong dạy và học môn văn – một môn học của cảm xúc lại càng cần có những thái độ, những tình cảm cá nhân chứ không phải và không thể là 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những rung động “dây chuyền”, những “mẫu rung động” của người dạy truyền sang người học. Cơ sở tâm lí Các nhà tâm lí học và lí luận văn học đã khẳng định : Con người là chủ thể thẩm mĩ có khả năng cảm thụ và sáng tạo ra những giá trị thẩm mĩ, ở mỗi con người đều có những tài năng. Đó là những tiềm lực tự thân, là những khả năng và phẩm chất thông thường nhất, được tập trung và phát triển mạnh mẽ, tạo nên năng lực thể hiện tốt một công việc nào đó.
Do vậy, với tư cách là một chủ thể thẩm mĩ, con người luôn có khả năng khám phá những giá trị thẩm mĩ trên cơ sở: - Tình cảm: Đó là niềm vui, sự xúc động, sự kính phục, thận trọng trước cái đẹp, cái cao cả. Tình cảm góp phần vào nhận thức. “Thiếu tình cảm của con người thì không bao giờ và cũng sẽ không có những tìm tòi của con người về chân lí” (Lê- nin). Chính nhờ tình cảm mà con người có thể có khả năng tạo ra một năng lượng mạnh mẽ, thúc đẩy con người hành động tích cực.
Tình cảm góp phần vào nhận thức mà nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm đòi hỏi được sẻ chia, cho nên tình cảm chính là con đường để nối công chúng với tác giả thông qua tác phẩm nghệ thuật của họ. - Trực giác : là khả năng nhận thức lí tính bằng trực cảm. Đó là kết quả của một quá trình nhận thức lâu dài về một điều gì đó, để đến một lúc nào đó phát hiện ra được những điều mới mẻ mà trước đó chưa hề biết một cách nhanh chóng đặc biệt. Tri giác được nảy sinh trên cơ sở vốn sống phong phú, sự chú ý tập trung đầy cảm hứng và sự nhạy bén của cảm giác.
- Tưởng tượng : là một quá trình tâm lí phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có. Tưởng tượng tái tạo là quá trình tưởng tượng tạo ra những hình ảnh chỉ là mới đối với cá nhân người tưởng tượng và dựa trên cơ sở miêu tả hoặc gợi 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ý của người khác. Nó được thực hiện bởi thao tác “hình dung lại” để xác định đối tượng nhận thức. Đó cũng là những nhiệm vụ đầu tiên của học sinh khi tiếp xúc với các môn học trong nhà trường.
Tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây dựng hình ảnh mới một cách độc lập. Những hình ảnh được xây dựng được coi là mới với cả bản thân người tưởng tượng và mới với cả xã hội. Đồng thời chúng được (hoặc có khả năng) hiện thực hóa trong các sản phẩm vật chất độc đáo và có giá trị, mang dấu ấn riêng của từng cá nhân. Năng lực tưởng tượng ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tiếp nhận sáng tạo của người đọc.
Tưởng tượng nhạy bén giúp phát huy mọi khả năng tiềm thức, vô thức, tình cảm (gọi là linh cảm), làm vụt sáng những phán đoán, những mối liên kết hình tượng, nối kết ý nghĩa và hình tượng làm cho người đọc có khả năng phát hiện ra những cái mới, cái độc đáo, cái kì lạ… trong tác phẩm văn chương. Mặt khác, tưởng tượng gắn liền với cảm xúc còn giúp cho người đọc khám phá ra các tầng nghĩa mới của tác phẩm cũng như khả năng lí giải vấn đề theo cách của riêng mình. Liên tưởng: Vấn đề liên tưởng nghệ thuật nói chung từng thu hút sự quan tâm không chỉ của giới sáng tác mà còn là vấn đề hấp dẫn đối với các nhà khoa học sư phạm, bởi nó có mối liên hệ đặc biệt sâu sắc với hoạt động học của học sinh trong nhà trường. Phan Trọng Luận định nghĩa liên tưởng như sau: Liên tưởng là đầu mối của những rung động thẩm mĩ.
Liên tưởng không những là cần thiết để lĩnh hội được bề trong của hình tượng, mà còn giúp mở rộng và đào sâu sự sống chứa đựng trong đó. Năng lực liên tưởng được xem như sự biểu hiện và dấu hiệu đặc trưng của cảm thụ văn học. Nếu không có quá trình liên tưởng, việc lĩnh hội tác phẩm sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn. Bởi vì, quá trình dạy học tác phẩm văn chương chỉ có thể thực hiện có hiệu lực thực sự khi khi nào nội dung tác phẩm được tái hiện trong trí tưởng tượng và trở thành một sự kiện trong tâm hồn các em.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Liên tưởng vừa là một hiện tượng tâm lí độc lập, đồng thời cũng có thể xem nó là một giai đoạn, một thao tác trong quá trình tưởng tượng. Vì lẽ đó, liên tưởng trở thành một điều kiện vận hành của tưởng tượng. Nhờ có liên tưởng, những hình ảnh mà tưởng tượng tạo ra được hoàn thiện và phong phú, sinh động, và ngược lại, nếu khả năng liên tưởng kém, những hình ảnh mà tưởng tượng tạo ra sẽ hạn chế và phiến diện. Các nhà nghiên cứu tâm lí học hiện đại cho rằng khả năng và sự thành đạt của một đứa trẻ không hoàn toàn phụ thuộc vào trí thông minh cảm xúc mà phụ thuộc vào các yếu tố có khả năng kích thích trí tưởng tượng, óc sáng tạo, khơi dậy lòng nhiệt thành, sự kiên trì và khuynh hướng tự kiểm soát, điều chỉnh hành vi trong một môi trường luôn luôn thay đổi.
Học sinh ngày nay có một số đặc điểm phát triển tâm lí khác hơn so với các thế hệ có cùng lứa tuổi trong các thời đại trước. Do điều kiện sống thay đổi, do được tiếp xúc với rất nhiều kênh thông tin, các em linh hoạt hơn, thực tế hơn, có vốn hiểu biết khá phong phú.