Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu và tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm Chương 3: Thực trạng về kế toán trách nhiệm trong Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội - MIC Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán trách nhiệm Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội – MIC CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 2. Bản chất, vai trò của kế toán trách nhiệm 2. Bản chất của kế toán trách nhiệm Thực tế các doanh nghiệp được phân chia thành các bộ phận, mỗi bộ phận đảm nhiệm một chức năng cụ thể, chịu trách nhiệm về những công việc cụ thể. Trong mỗi bộ phận như vậy sẽ có những cá nhân chịu trách nhiệm về một công việc hoặc chức năng nào đó.
Như vậy để đạt được mục tiêu chung của tổ chức, mỗi cá nhân và mỗi bộ phận trong tổ chức phải nổ lực thực hiện các nhiệm vụ, các mục tiêu riêng lẻ do quản lý cấp cao đã vạch ra cho bộ phận mình. Để kiểm soát hoạt động của cấp dưới, các nhà quản lý cấp cao đã dựa vào hệ thống KTTN. KTTN là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Bản chất của KTTN là mỗi bộ phận được phân cấp quản lý, có quyền kiểm soát, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc phạm vi phân cấp quản lý của mình.
Việc phân cấp quản lý tạo nên cơ cấu phức tạp và đòi hỏi cấp trên phải nắm được kết quả thực hiện của cấp dưới. Vì thế, KTTN được xây dựng để theo dõi kết quả, hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp. KTTN chỉ được thực hiện ở doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được phân quyền một cách rõ ràng. Hệ thống KTTN trong các tổ chức khác nhau được xây dựng phù hợp với cơ cấu tổ chức quản lý, mức độ phân quyền và mục tiêu của doanh nghiệp.
KTTN là một nội dung cơ bản của KTQT. KTTN là một bộ phận trong một tổ chức hoạt động mà nhà quản trị bộ phận chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của bộ phận mình đối với nhà quản trị cấp cao.Điều này không chỉ đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ rõ ràng về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà còn xác định rõ nguyên nhân và bộ phận nào có kiểm soát với hoạt động xảy ra. KTTN là một trong những công cụ quản lý kinh tế tài chính có vai trò quan trọng trong điều hành, kiểm soát cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận trong đơn vị. KTTN giúp thu thập và báo cáo các thông tin đầu vào – nguồn lực tiêu hao và đầu ra – doanh thu, kết quả sản xuất, chất lượng dịch vụ.
theo kế hoạch và thực tế của các trung tâm trách nhiệm. Từ đó so sánh giữa thực tế và dự toán tìm ra các sai lệch trên cơ sở đó các bộ phận có thể kiểm soát hoạt động và chi phí phát sinh tại bộ phận. Vai trò của kế toán trách nhiệm KTTN với mục đính là đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận trong đơn vị, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau. Vai trò của KTTN được thể hiện ở những khía cạnh sau đây: Thứ nhất, KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của tổ chức.
Thứ hai, KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận. KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó các nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của các trung tâm trách nhiệm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá. Thứ ba, KTTN được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do đó, nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này. Thứ tư, KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức.
Mục tiêu chiến lược của các doanh nghiệp được gắn với các trung tâm trách nhiệm. Vì vậy các nhà quản lý của trung tâm trách nhiệm sẽ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu của doanh nghiệp. Thứ năm, KTTN trong việc kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. KTTN giúp nhà quản trị các cấp xác định trách nhiệm của mình và sẽ phải chịu trách nhiệm đó với nhà quản trị cấp cao hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh để đặt được mục tiêu.
KTTN cũng giúp nhà quản trị các cấp đánh giá được hoạt động kinh doanh của bộ phận mình. Từ đó nhà quản trị cấp dưới chủ động ra quyết định kinh doanh, các nhà quản trị cấp cao tập trung vào các quyết định chiến lược kinh doanh. Phân loại kế toán trách nhiệm Trong cuốn “Management Acounting“ của tác giả Hansen và Mowen và theo tác giả Trần Trung Tuấn (năm 2015) với công trình nghiên cứu về kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam, KTTN được chia thành ba loại dựa trên các yếu tố của KTTN là: KTTN dựa trên chức năng, KTTN dựa trên hoạt động và KTTN dựa trên chiến lược. KTTN dựa trên chức năng là KTTN thực hiện phân bổ trách nhiệm tới các bộ phận trong doanh nghiệp và thực hiện đo lường thành quả bằng các chỉ số tài chính.
Các doanh nghiệp có các sản phẩm hàng loạt trong môi trường ổn định, áp lức cạnh tranh thấp, quy trình sản xuất đơn giản rất phù hợp với KTTN theo chức năng. KTTN dựa trên hoat động: Do môi trường kinh doanh thay đổi liên tục thì KTTN cũng phải thay đổi để phù hợp với môi trường kinh doanh đó. KTTN dựa trên hoạt động là KTTN phân bổ trách nhiệm tới quá trình, đo lường thành quả bằng chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Mô hình doanh nghiệp áp dụng phù hợp đó là doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh thay đổi liên tục, sản phẩm đa dạng và quy trình được cải tiến, áp lực cạnh tranh khốc liệt.
KTTN dựa trên chiến lược: Tuy KTTN dựa trên hoạt động đã khắc phục được hạn chế của KTTN dựa tren chức năng, nhưng chúng chưa cung cấp cho nhà quản trị một tầm nhìn và chiến lược và các chỉ tiêu đánh giá mang tính chất tổng thể và chiến lược. Vậy KTTN dựa trên chiến lược là chuyển chiến lược của doanh nghiệp thành mục tiêu kinh doanh và thước đo. Chúng đo lường chỉ tiêu tài chính và phi tài chính dựa vào tầm nhìn định hướng chiến lược. Quan hệ kế toán trách nhiệm với tổ chức phân cấp quản lý 2.
Tổ chức phân cấp quản lý KTTN là công việc không thể tách rời các trung tâm trách nhiệm. Các trung tâm trách nhiệm hình thành thông qua việc phân cấp quản lý. Phân cấp quản lý là việc nhà quản lý cấp trên trao cho các nhà quản lý cấp thấp hơn một số quyền ra quyết định.Và cấp dưới đó chỉ ra quyết định trong phạm vi trách nhiệm của mình. Tuỳ theo từng doanh nghiệp Nhà quản trị cần phải xác định đúng đắn mức độ phức tạp của tổ chức để từ đó thực hiện phân quyền cho phù hợp.
Nhà quản trị phải xây dựng một hệ thống các mục tiêu sao cho mỗi bộ phận đều đảm bảo thực hiện được, phải có sự tương quan giữa quyền hạn và trách nhiệm Việc phân quyền chứa đựng nhiều nội dung thuộc nhiều lĩnh vực. Vì vậy việc phân quyền có thể phân theo chức năng, sản phẩm khu vực. *Phân quyền theo chức năng: là cơ cấu được tổ chức được dựa trên chuyên môn hóa theo chức năng công việc. Những nhiệm vụ quản trị của doanh nghiệp được phân chia cho các đơn vị riêng biệt, từ đó hình thành những người lãnh đạo đảm nhận một chức năng nhất định.
Theo kiểu phân cấp này tại sơ đồ 2.1 các đơn vị chức năng có quyền chỉ đạo các đơn vị trực tuyến. Giám đốc điều hành Giám đốc sản xuất Giám đốc Marketing Giám đốc Tài Chính Sơ đồ 2. Phân quyền theo chức năng Phân quyền theo chức năng, người cấp dưới không những nhận lệnh từ giám đốc điều hành DN mà cả từ người lãnh đạo các chức năng khác. Bởi vậy giám đốc điều hành và người lãnh đạo các chức năng phải phối hợp ăn khớp đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo, tránh tình trạng mâu thuẫn.
*Phân quyền theo dòng sản phẩm: Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn với nhiều dây chuyền công nghệ việc nhóm các hoạt động theo sản phẩm có vai trò ngày càng gia tăng và phát triển. Phân quyền theo dòng sản phẩm tức là ban quản trị cấp cao nhất trao các quyền hạn cho ban quản lý bộ phận theo các chức năng sản xuất, bán hàng, dịch vụ, kỹ thuật liên quan đến một sản phẩm và chỉ rõ trách nhiệm chính về lợi nhuận của người quản lý bộ phận đó. Giám đốc điều hành Sản Phẩm X Sản Phẩm Y Sản Phẩm Z Sản Xuất Marketing Tài Chính Sơ đồ 2.2 Phân quyền theo sản phẩm *Phân quyền theo khu vực: với mục đích thúc đẩy sự tham gia của khu vực đó, với những ưu thế hoạy động của khu vực đó. Phân quyền theo khu vực là các bộ phận của tổ chức được hình thành nhớ nhóm theo từng khu vực và giao quyền cho một người quản lý lãnh đạo khu vực đó.
Phân quyền theo khu vực thể hiện ở sơ đồ 2.3 Giám đốc điều hành Hà Nội Hồ Chí Minh Sản Xuất Marketing Tài Chính Sản Xuất Marketing Tài Chính Sơ đồ 2.3 Phân quyền theo khu vực Khi tiến hành phân cấp quản lý, nếu doanh nghiệp chia ra quá nhiều cấp thì sẽ có thể dẫn đến bộ máy tổ chức cồng kềnh, hoặc nếu tập trung quá nhiều quyền quyết định vào một nơi thì sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động. Vì thế, nhà quản cần phải cân nhắc giữa ưu điểm và nhược điểm khi thực hiện việc phân cấp đó. Mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm và phân cấp quản lý Hệ thống KTTN chỉ tồn tại trong doanh nghiệp khi có sự phân quyền, khi đó quyền ra quyết định và trách nhiệm được trao cho các bộ phận của doanh nghiệp. Các cấp quản lý khác nhau được quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm với phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của họ.