CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, vai trò của kế toán tiền lương và các hình thức trả lương theo trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về tiền lương Đứng trên những quan điểm khác nhau thì khái niệm tiền lương cũng được trình bày theo nhiều cách. Cụ thể: Theo bộ luật lao động số 45/2019/QH14 có đưa ra khái niệm về tiền lương như sau: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.
Trong đó, mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau”. Theo quan điểm của kinh tế học hiện đại thì: “Tiền lương là giá cả của sức lao động, được xác định bằng quan hệ cung cầu trên thị trường lao động” Theo C. Mác : “Lao động của con người là một trong 3 yếu tố quan trọng tạo nên quá trình sản xuất.
Lao động giữ vai trò quan trọng trong việc tái tạo cũng như tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Vì vậy ông cho rằng: tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động.” Ngoài ra, tiền lương còn được hiểu như sau: Tiền lương là giá cả sức lao động, được thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, phù hợp với quan hệ cung - cầu sức lao động trên thị trường và phù hợp với các quy định của pháp luật lao động, được người sử dụng lao động trả cho người lao động một cách thường xuyên, ổn định trong khoảng thời gian hợp đồng lao động (tuần, tháng, năm). Ở Việt nam trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, tiền lương được hiểu là một bộ phận thu nhập quốc dân dùng để bù đắp hao phí lao động tất yếu do Nhà nước 5 SVTH: Lê Thị Thùy Dương Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Phương Thanh phân phối cho công nhân viên chức bằng hình thức tiền tệ, phù hợp với quy luật phân phối theo lao động.
Trong thời kỳ kinh tế thị trường, quan niệm về tiền lương là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động phải chi trả cho người lao động để hoàn thành công việc. Tiền lương cũng được hiểu là một bộ phận của sản phẩm xã hội biểu hiện bằng tiền được trả cho người lao động dựa trên số lượng và chất lượng lao động của mọi người dùng để bù đắp lại hao phí lao động của mọi người dùng để bù đắp lại hao phí lao động của họ và nó là một vấn đề thiết thực đối với cán bộ công nhân viên. => Mặc dù có rất nhiều khái niệm về tiền lương nhưng tóm lại về tổng thể thì tiền lương được xem như một phần của quá trình trao đổi giữa người lao động và doanh nghiệp. Cụ thể: Người lao động cung cấp cho doanh nghiệp về mặt thời gian, sức lao động, trình độ nghề nghiệp của mình.
Đổi lại, người lao động nhận lại doanh nghiệp tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp xã hội và khả năng đào tạo, phát triển nghề nghiệp của mình. Đặc biệt đối với thành phần kinh tế tư nhân sức lao động đồng thời trở thành hàng hóa vì người sử dụng tư liệu sản xuất không đồng thời sở hữu tư liệu sản xuất. Giá trị của sức lao động thông qua sự thỏa thuận của hai bên căn cứ vào pháp luật hiện hành. Bản chất của tiền lương Tiền lương biến động xoay quanh giá trị sức lao động, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và giá cả tư liệu sinh hoạt.
Đó là sự biến động thể hiện bản chất của tiền lương. Về mặt kinh tế, tiền lương là kết quả của thoả thuận trao đổi hàng hoá sức lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Về mặt xã hội, tiền lương đảm bảo cho người lao động có thể mua được tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động của bản thân và một phần dành để nuôi thành viên gia đình cũng như bảo hiểm lúc về hưu. Trong quá trình lao động, 6 SVTH: Lê Thị Thùy Dương Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Phương Thanh người lao động còn nhận được các khoản phụ cấp lương, tiền thưởng và các loại phúc lợi. Tiền lương còn có ý nghĩa như khoản tiền đầu tư cho người lao động không ngừng phát triển về trí lực, thể lực, thẩm mỹ và đạo đức. Vai trò và chức năng của tiền lương 1. Vai trò của tiền lương Xét trên khía cạnh tổng thể thì bất kỳ giai đoạn nào của xã hội, lao động nói chung là một yếu tố thiết yếu của sự tồn tại và phát triển.
Lao động là một trong những yếu tố cơ bản quyết định nên sự thành công của mọi công việc. Chi phí về lao động là một trong những yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị và sức lao động bỏ ra của con người. Xét trên khía cạnh vai trò của tiền lương đối với người lao động thì tiền lương gắn liền với lợi ích của người lao động. Tiền lương chính là khoản bù đắp lại sức lao động cho người lao động.
Tiền lương có vai trò làm thỏa mãn nhu cầu của người lao động bởi người lao động đi làm cốt là để nhận được một khoản thù lao để tạo ra thu nhập và sử dụng nó để trang trải cuộc sống. Xét trên khia cạnh vai trò của tiền lương đối với kết quả kinh doanh cuả doanh nghiệp thì tiền lương chính là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất lao động. Khi nhận tiền lương thoả đáng, công tác trả lương của doanh nghiệp công bằng, hợp lý sẽ tạo động lực cho quá trình sản xuất kinh doanh và từ đó tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm được nâng cao. Nhờ đó mà doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp không ngừng tăng lên.
Đối với các doanh nghiệp tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sáng tạo ra hay nói cách khác nó là yếu tố của chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm. Do vậy, các doanh nghiệp phải sử dụng sức lao động có hiệu quả để tiết kiệm chi phí lao động trong đơn vị sản phẩm, công việc dịch vụ và luân chuyển hàng hoá. Chức năng của tiền lương Về cơ bản tiền lương sẽ có 06 chức năng chính như sau: 7 SVTH: Lê Thị Thùy Dương Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Phương Thanh Một là, chức năng tái sản sản xuất sức lao động Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vật chất, sức lao động cần được tái tạo, với các hình thái kinh tế xã hội khác nhau sẽ có sự tái sản xuất sức lao động khác nhau.
Quá trình này thể hiện rõ ở sự tiến bộ của xã hội và sự tác động của khoa học- công nghệ. Quy trình tái sản xuất sức lao động được thể hiện qua việc trả công cho người lao động bằng tiền lương. Như vậy, bản chất của tái sản xuất sức lao động là nhằm đảo bảo cho người lao động có một số tiền lương nhất định dùng cho sinh hoạt để họ có thể duy trì và phát triển sức lao động của mình, sản xuất ra sức lao động mới, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hoàn thành kỹ năng lao động và tăng cường chất lượng lao động. Hai là, thước đo giá trị Khi tiền lương mà doanh nghiệp trả cho người lao động tương ứng với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc ta có thể xác định được hao phí lao động của toàn thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lương cho toàn thể người lao động.
Điều này cũng có nghĩa là công tác thống kê sẽ giúp cho nhà nước có thể hoạch định các chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu nhằm đảm bảo hợp lý thực tế phù hợp với chính sách của nhà nước. Ba là, kích thích lao động Trong quá trình lao động, lợi ích về kinh tế của người lao động là động lực sản xuất. Khi người lao động được trả công xứng đáng thì họ sẽ làm việc tích cực, không ngừng hoàn thiện mình. Ngược lại, nếu người lao động không được trả công xứng đáng sẽ có những biểu hiện tiêu cực không thuận lợi cho doanh nghiệp, thậm chí sẽ xảy ra đình công gây xáo trộn về chính trị, bất ổn xã hội.
Việc tổ chức tiền lương và tiền công sẽ thúc đẩy, khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động để đảm bảo công bằng trên cơ sở thực hiện tiền lương. Bốn là, chức năng điều tiết lao động Trong việc thực hiện kế hoạch cân đối giữa các ngành, nghề ở các khu vực trên toàn quốc, nhà nước thường thông qua hệ thống thang bảng lương, các chế độ 8 SVTH: Lê Thị Thùy Dương Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Phương Thanh phụ cấp cho từng ngành nghề, khu vực để làm công cụ điều tiết lao động. Nhờ vậy, tiền lương cũng góp phần tạo ra một cơ cấu hợp lý để phát triển xã hội.
Năm là, chức năng tích lũy Đảm bảo tiền lương cho người lao động không chỉ giúp họ duy trì được cuộc sống hằng ngày mà còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hoặc gặp bất trắc. Sáu là, công cụ quản lý Nhà nước. Nhà nước ban hành Luật lao động để bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động để từ đó tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hòa và ổn định nhằm góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động nhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp về năng suất, chất lượng lao động, tiến bộ xã hội. Chế độ tiền lương a.
Chế độ lương theo cấp bậc ❖ Khái niệm: Chế độ tiền lương cấp bậc là những quy định chung của nhà nước và các xí nghiệp, doanh nghiệp vận dụng để trả lương cho người lao động. Chế độ tiền lương cấp bậc được thiết kế để trả công cho công nhân sản xuất căn cứ vào chất lượng lao động và điều kiện lao động khi họ thực hiện một công việc nhất định.