CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 1. Sự cần thiết phải tôt chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. Khái niệm và ý nghĩa của lao động tiền lương và các khoản trích theo lương. Dưới mọi hình thức kinh tế xã hội, tiền lương luôn được coi là một bộ phận quan trọng của giá trị hàng hóa.
Nó chịu tác động của nhiều yếu tố như: kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử. Ngược lại tiền lương cũng tác động đến phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và ổn định chế độ kinh tế xã hội. Chính vì thế không chỉ Nhà nước ( ở tầm vĩ mô) mà còn cả doanh nghiệp và người lao động ( ở tầm vi mô) đều quan tâm đến chính sách tiền lương. Chính sách tiền lương phải thường xuyên được đổi mới cho phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Vừa qua kỳ họp quốc hội đã có nhiều sửa đổi bổ sung về bộ luật lao động trong đó đã có ít nhiều sự thay đổi về chính sách, có chế độ trả lương cho người lao động để phù hợp với tình hình hiện nay. Tiền lương trong cơ chế hóa tập trung. Trong cơ chế hóa tập trung tiền lương được hiểu một cách thống nhất: “ Tiền lương dưới Chủ nghĩa xã hội là một phần kinh tế quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân viên chức cho phù hợp với số lượng, chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến. Tiền lương phản ánh việc trả lương cho công nhân viên chức dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động”.
Sv: Đặng Phương Anh 3 Lớp: CQ48/21.21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Như vậy, theo quan điểm của thời kỳ này tiền lương được biểu hiện như sau: - Tiền lương không phải giá trị sức lao động. Bởi vì quan điểm này đồng thời cho thấy rằng dưới chủ nghĩa xã hội, sức lao động không phải hàng hóa cả trong khu vực sản xuất kinh doanh cũng như trong khu vực quản lý xã hội, Nhà nước. - Tiền lương là một khái niệm thuộc phạm trù phân phối tuân thủ các nguyên tắc của quy luật phân phối dưới Chủ nghĩa xã hội. - Tiền lương được phân phối công bằng theo số lượng và chất lượng của công nhân viên chức đã hao phí và được kế hoạch hóa từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở, được Nhà nước thống nhất quản lý.
- Chế độ tiền lương trong giai đoạn này nặng tính giai cấp bình quân nên không khuyến khích người lao động nâng cao trình độ chuyên môn, tính chủ động và xem nhẹ lợi ích của người lao động, không gắn lợi ích và thành quả mà họ làm ra. Quan điểm sai lầm đó đã dẫn đến hậu quả lớn, biên chế nhân lực lớn, ngân sách thâm hụt nặng nề do phải bao cấp tiền lương nhưng lại không đủ tái sản xuất sức lao động, tạo nên bầu không khí ỉ lại trông chờ vào Nhà nước và hậu quả lớn nhất là sự sa sút nghiêm trọng của nền kinh tế. Chính vì vậy mà tiền lương trong giai đoạn này không còn là mối quan tâm của công nhân viên chức trong các doanh nghiệp Nhà nước. Họ không còn thiết tha với công việc chính, tiêu cực gia tăng, tình trạng “ chân trong chân ngoài” khá phổ biến.
Vì thế tất yếu là hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm sút. Tiền lương trong nền kinh tế thị trường. Ngày nay, cùng với sự đối mới nền kinh tế đất nước từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường, quan điểm về tiền lương cũng thay đổi. Sv: Đặng Phương Anh 4 Lớp: CQ48/21.21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính “ Tiền lương là một bộ phận của thu nhập quốc dân, là giá trị mới sáng tạo ra mà người sử dụng lao động trả cho người lao động phù hợp với giá trị sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất”.
Như vậy quan điểm trên đã khắc phục những sai lầm của quan điểm trong nền kinh tế tập trung bao cấp. Hơn nữa nó còn bộc lộ những nhận thức đúng đắn sau: - Sức lao động là một loại hàng hóa. Tính chất hàng hóa của sức lao động bao gồm không chỉ lực lượng lao động làm việc trong khu vực sản xuất kinh doanh mà còn cả với công chức, viên chức trong lĩnh vực quản lý, xã hội. - Có hàng hóa sức lao động thì tức là có sự hoạt động của thị trường sức lao động.
Tiền lương là giá cả của hàng hóa sức lao động mà người sử dụng lao động mua sức lao động để trả cho người lao động tức là người bán sức lao động. - Tiền lương là bộ phận cơ bản trong thu nhập của người lao động, đồng thời là một trong các yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh. Nguyên tắc, vai trò và nhiệm vụ của kế toán hạch toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương. * Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức tiền lương gồm có 3 nguyên tắc cơ bản: + Áp dụng trả lương ngang nhau cho lao động cùng một đơn vị sản xuất kinh doanh bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối theo lao động có ý nghĩa khi quyết định các chế độ tiền lương nhất thiết không phân biệt tuổi tác, dân tộc, giới tính.
+ Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương. Đây là nguyên tắc tạo cơ sở cho việc giảm giá thành, tăng tích luỹ bởi vì năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố chủ quan của người lao động (trình độ tay nghề, các biện pháp hợp lý sử dụng thời gian) mà Sv: Đặng Phương Anh 5 Lớp: CQ48/21.21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính còn phụ thuộc vào các nhân tố khách quan (sử dụng hợp lý nguyên vật liệu, áp dụng công nghệ mới). + Phải đảm bảo mối tương quan hợp lý về tiền lương giữa những người làm nghề khác nhau trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.Tính chặt chẽ nghề nghiệp, độ phức tạp về kỹ thuật giữa các ngành nghề đòi hỏi trình độ lành nghề bình quân của người lao động là khác nhau. Những người làm việc trong môi trường độc hại, nặng nhọc, tổn hao nhiều sức lực phải được trả công cao hơn so với những người lao động bình thường.
Hình thức tiền lương có xét đến điều kiện lao động có thể thông qua việc thiết kế các hệ số lương hoặc quy định các mức phụ cấp ở các ngành nghề khác nhau.Từ đó các điều kiện lao động đều ảnh hưởng ít nhiều đến tiền lương bình quân của mỗi ngành nghề. - Đảm bảo tiền lương thực tế tăng lên khi tăng tiền lương nghĩa là tăng sức mua của người lao động.Vì vậy việc tăng tiền lương phải đảm bảo tăng bằng cung cấp hàng hoá, tín dụng tiền tệ. Phải đâỷ mạnh sản xuất, chú trọng công tác quản lý thị trường, tránh đâù cơ tích trữ, nâng giá nhằm đảm bảo lời ích của người lao động. Mặt khác tiền lương còn là một bộ phận cấu thành nên giá trị, giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và là một bộ phận của thu nhập kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do đó đảm bảo tăng tiền lương thực tế cho người lao động là việc xử lý hài hoà hai mặt của vấn đề cải thiện đời sống cho người lao động phải đi đôi với sử dụng tiền lương như một phương tiện quan trọng kích thích người lao động hăng hái sản xuất có hiệu quả hơn. - Đảm bảo chi phí để người lao động tái sản xuất sức lao động. Đây là yếu cầu tối thiểu của tiền lương, tiền lương phải nuôi sống người lao động, duy trì sức lao động của họ. Sv: Đặng Phương Anh 6 Lớp: CQ48/21.21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính - Vai trò kích thích của tiền lương.
Tiền lương tạo ra động cơ cho người lao động có trách nhiệm trong công việc, tạo sự say mê nghề nghiệp, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn. - Vai trò điều phối lao động. Với tiền lương thỏa đáng người lao động tự nguyện nhận mọi công việc được giao trong những điều kiện phù hợp. - Vai trò quản lý lao động.
Thông qua việc trả lương, doanh nghiệp có thể giám sát theo dõi người lao động làm việc theo ý muốn của mình, đảm bảo tiền lương chi ra phải đem lại hiệu quả rõ rệt. Tiền lương và các khoản trích theo lương với CBCNV có ý nghĩa rất quan trọng đối với người lao động và người sử dụng lao động. Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo đúng chế độ của nhà nước, gắn với yêu cầu quản lý lao động sẽ có tác dụng nâng cao kỷ luật và tăng cường thi đua sản xuất, kích thích người lao động nâng cao tay nghề và hiệu suất lao động. Ngoài tiền lương, người lao động được hưởng các khoản phụ cấp, trợ cấp BHXH, BHYT, BHTN.
các khoản này cũng góp phần tăng thêm thu nhập cho người lao động trong các trường hợp khó khăn, tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động. Vì vậy, việc tổ chức công tác kế toán cần thực hiện các nhiệm vụ sau: - Tổ chức ghi chép phản ánh chính xác kịp thời đầy đủ số lượng, chất lượng, thời gian và kết quả lao động. Tính đúng và thanh toán kịp thời đầy đủ tiền lương và các khoản liên quan khác cho người lao động trong doanh nghiệp. Kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, việc chấp hành chính sách, chế độ về lao động tiền lương và tình hình sử dụng quỹ lương.
- Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ đúng chế độ ghi chép ban đầu về lao động tiền lương, mở sổ kế toán hạch toán lao động tiền lương đúng chế độ, đúng phương pháp. Sv: Đặng Phương Anh 7 Lớp: CQ48/21.21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính - Tính toán phân bổ chính xác đúng đối tượng chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương vào chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận đơn vị sử dụng lao động. - Lập báo cáo kế toán và phân tích tình hình sử dụng lao động quỹ tiền lương, đề xuất biện pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, ngăn chặn các hành vi vi phạm chính sách chế độ về lao động tiền lương.