đặt vấn đề phải làm sao duy trì bền vững môi trường và điều kiện sống cho các thế hệ tương lai. Khái niệm phát triển bền vững chính thức được đề xuất năm 1987 đã trở thành mục tiêu phát triển của từng quốc gia và mục tiêu toàn cầu. Hội nghị thượng đỉnh liên hợp quốc về phát triển bền vững RIO+20 tổ chức năm 2012 với sự tham gia của đại diện đến từ 192 quốc gia với các cam kết chi nhiều tiền của để đạt mục tiêu phát triển bền vững trong đó có bảo vệ môi trường cho thấy mối quan tâm toàn cầu đối với môi trường. Trong bối cảnh mối quan tâm chung về môi trường toàn cầu đó, các công ty chịu áp lực từ các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vì các bên này ngày càng gia tăng quan tâm đến tác động môi trường.
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) (2005, trang 15), công ty phải đối mặt với các áp lực từ phía các bên này, buộc họ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 phải có sáng kiến và áp dụng các biện pháp hiệu quả để quản trị và giảm thiểu tác động môi trường và cung cấp thông tin, các áp lực đó là: - Áp lực từ chuỗi cung ứng, các công ty lớn yêu cầu nhà cung cấp phải có chứng nhận quản lý môi trường của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) cấp. - Áp lực công bố thông tin từ phía các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác nhau buộc công ty phải công bố báo cáo hoạt động môi trường trong hệ thống báo cáo tài chính thường niên, hoặc tình nguyện công bố các báo hoạt động môi trường riêng. - Áp lực tài chính từ phía các quỹ đầu tư trách nhiệm xã hội (Socially Responsible Investing – SRI) hay hệ thống đánh giá công ty để đầu tư có xét đến yếu tố trách nhiệm với xã hội, ví dụ chỉ số bền vững Dow Jones (Dow Jones Sustainability Index) và yêu cầu khai báo chính sách đầu tư. - Áp lực từ phía các quy định kiểm soát ô nhiễm, ví dụ Liên minh Châu Âu quy định cấm sử dụng các chất độc hại để sản xuất các thiết bị điện và điện tử bán ở Châu Âu.
- Áp lực thuế môi trường ví dụ thuế carbon, thuế sử dụng năng lượng, lệ phí sử dụng bãi rác, phí chất thải… - Rào cản và áp lực thương mại, ví dụ hạn mức chất thải của nghị định thư Kyoto. Theo Schaltegger and Burritt (2000) sự thay đổi thái độ của các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chính là điều kiện cần nhưng chưa đủ cho sự xuất hiện của kế toán môi trường. Cần có thêm một điệu kiện khiến cho chính các công ty thấy rằng họ cần thay đổi hệ thống kế toán để có thể thấy được tác động của các yếu tố môi trường đến công ty. Điều kiện đó là sự thay đổi mối quan hệ giữa các chi phí.
Sự thay đổi mối quan hệ giữa các chi phí Hầu hết các công ty sử dụng hệ thống kế toán được thiết kế trước khi thấy được tầm quan trọng chi phí và tác động môi trường. Cho đến những năm 1990, giá trị chi phí môi trường không đáng kể và việc theo dõi chi phí này không mang lại hiệu quả do chi phí bỏ ra để đo lường và ghi nhận chi phí môi trường tương đối cao (Schaltegger and Burritt, 2000). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Từ sau những năm 1990, mối quan hệ này đã bị đảo ngược thông qua sự phát triển và thực thi rộng rãi nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả phí” (Polluter Pay Principle – PPP). Nguyên tắc này được Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đề xướng từ năm 1972, ngày nay đã trở thành nền tảng chính sách môi trường của nhiều quốc gia (OECD, 2011).
Chi phí tuân thủ quy định môi trường lớn hơn và vẫn đang ngày càng tăng trong các công ty, trong khi các hệ thống thu thập thông tin chi phí đã trở thành tương đối rẻ tiền. Nói cách khác, chi phí cơ hội khi bỏ qua các vấn đề môi trường đã tăng cao (Schaltegger and Burritt, 2000). Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) (1995, trang 1), chi phí môi trường và hoạt động môi trường xứng đáng được doanh nghiệp chú ý vì: - Nhiều chi phí môi trường có thể được giảm đáng kể hoặc loại bỏ hoàn toàn nhờ quyết định kinh doanh. Ví dụ đầu tư công nghệ sản xuất bảo vệ môi trường, nhiều chi phí môi trường (như vật liệu lãng phí) không hề mang lại giá trị tăng thêm cho sản phẩm.
- Chi phí môi trường có thể nằm lẫn trong chi phí chung, hoặc bị bỏ qua. - Nhiều công ty phát hiện ra rằng chi phí môi trường có thể được bù đắp bằng cách tạo ra doanh thu thông qua bán chất thải, chuyển nhượng giấy phép ô nhiễm hoặc giấy chứng nhận công nghệ sạch. - Quản trị chi phí môi trường tốt hơn sẽ cải thiện hoạt động môi trường và sức khỏe của con người cũng như thành công của doanh nghiệp. - Nhận biết chi phí môi trường và liên quan tiến trình sản xuất và sản phẩm giúp xác định chi phí và giá sản phẩm chính xác hơn, giúp doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm dịch vụ thân thiện với môi trường hơn trong tương lai.
- Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ thế mà được gia tăng. - Kế toán chi phí và hiệu suất môi trường có thể hỗ trợ công ty phát triển và tổ chức hệ thống quản lý môi trường, đạt chứng chỉ ISO 14001. - Rủi ro môi trường có thể dẫn đến các khoản nợ rất lớn về môi trường và sau đó tổ chức có thể có nghĩa vụ thanh toán kinh phí lớn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thanh khoản và vị trí tài chính của tổ chức. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Như vậy xuất phát từ hai nguyên nhân mà doanh nghiệp không thể không quan tâm đến các tác động môi trường, đó là áp lực từ phía các bên liên quan và sự thay đổi mối quan hệ chi phí môi trường.
Định nghĩa, các thành phần và mục tiêu của kế toán môi trường 1. Định nghĩa kế toán môi trường Chưa có một định nghĩa thống nhất về kế toán môi trường, các tổ chức và các nhà nghiên cứu thường đưa ra định nghĩa theo mục tiêu của tài liệu hướng dẫn hoặc theo hướng nghiên cứu. Theo định nghĩa của Viện kế toán quản trị môi trường (IMA): “Kế toán môi trường là việc xác định, đo lường và phân bổ chi phí môi trường, kết hợp chi phí môi trường trong quyết định kinh tế, công bố thông tin cho các bên liên quan. Định nghĩa này thiên về kế toán quản trị.
Định nghĩa của tài liệu hướng dẫn thực hành kế toán môi trường Nhật Bản 2005, đây là một hướng dẫn khá toàn diện cả về kế toán quản trị, kế toán tài chính và công bố thông tin. Theo đó, “Kế toán môi trường có mục tiêu hướng tới sự phát triển bền vững, duy trì mối quan hệ tốt đẹp với cộng đồng, và theo đuổi các hoạt động bảo vệ môi trường. Các phương pháp kế toán cho phép công ty xác định được chi phí bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động bình thường, xác định lợi ích thu được từ các hoạt động, cung cấp cách thức định lượng và hỗ trợ phương thức công bố thông tin. Theo IFAC (2005, trang 13-14), kế toán môi trường là một thuật ngữ có nghĩa rộng dùng trong nhiều ngữ cảnh mang nhiều hàm ý khác nhau: - Việc đánh giá và công bố thông tin môi trường kết hợp với thông tin tài chính trong kế toán và báo cáo tài chính.
- Việc đánh giá và sử dụng thông tin liên quan môi trường dưới hình thức đơn vị tiền tệ và đơn vị vật chất trong kế toán quản trị môi trường. - Việc ước tính chi phí và tác động môi trường bên ngoài doanh nghiệp, thường liên quan đến kế toán chi phí đầy đủ (Full cost accounting – FCA). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Kế toán nguồn lực và dòng luân chuyển của các tài nguyên thiên nhiên dưới dạng đơn vị tiền tệ và đơn vị vật chất, thường gọi là kế toán tài nguyên thiên nhiên (Natural Resoure Accounting – NRA). - Việc thu thập và báo cáo thông tin kế toán cấp độ công ty, thông tin kế toán tài nguyên thiên nhiên và các thông tin khác để phục vụ mục tiêu kế toán quốc gia.
- Việc xem xét thông tin dưới hình thức đơn vị tiền tệ và đơn vị vật chất liên quan môi trường trong khi thực hiện kế toán bền vững – lập báo cáo bền vững cung cấp thông tin dưới dạng 3 trụ cột: tài chính, môi trường, xã hội. Ở mức độ công ty, kế toán môi trường vừa liên quan đến kế toán quản trị: đánh giá chi phí thiết bị kiểm soát ô nhiễm của ông ty, thu nhập từ tiết kiệm nguyên liệu, số tiền tiết kiệm được hàng năm từ công nghệ tiết kiệm năng lượng mới; và vừa liên quan đến kế toán tài chính: đánh giá và báo cáo nợ phải trả liên quan môi trường của công ty. Dựa trên các định nghĩa của các tổ chức khác nhau như trên và xét đến phạm vi nghiên cứu của đề tài là kế toán môi trường ở cấp độ công ty, tác giả quyết định sử dụng định nghĩa và cũng như cách phân loại của Schaltegger trong tác phẩm Corporate environmental accounting (1996) cho đề tài. Bởi lẽ, Schaltegger đã đưa ra định nghĩa và phân loại kế toán môi trường áp dụng cho mức độ công ty khá toàn diện và bao quát.
Theo đó, kế toán môi trường là bộ phận của kế toán nghiên cứu về phạm vi, phương pháp ghi nhận, phân tích và báo cáo tác động môi trường của đơn vị kinh tế cụ thể (công ty, nhà máy, khu vực, quốc gia). Tác động của môi trường được công bố dưới dạng thông tin tài chính (tiền tệ) hay thông tin vật chất (Schaltegger et al, 1996, trang 5). Các thành phần cơ bản của kế toán môi trường Hệ thống kế toán môi trường bao gồm Kế toán truyền thống và Kế toán sinh thái (Schaltegger et al, 1996) và (Schaltegger and Burritt, 2000). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Phân loại kế toán môi trường + Kế toán tài chính Kế toán truyền thống + Kế toán quản trị + Kế toán khác Kế toán môi trường + Kế toán sinh thái nội bộ + Kế toán cung cấp thông Kế toán sinh thái tin bên ngoài công ty + Kế toán sinh thái khác (Nguồn: Schaltegger et al, 1996 và Schaltegger and Burritt, 2000) 1.