CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ, DOANH THU VÀ KẾT QUẢ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 100% VỐN NƯỚC NGOÀI 1. KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Kế toán quản trị Cũng như các ngành khoa học xã hội khác, kế toán hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, khi nền sản xuất xã hội phát triển và thay đổi thì kế toán cũng phát triển và thay đổi theo tương ứng để đáp ứng nhu cầu về thông tin cho quản lý. Vai trò của kế toán bắt đầu hình thành khi con người chú ý đến hoạt động thương mại.
Vào năm 1966, Hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA) đưa ra khái niệm về kế toán: "Kế toán là một quá trình nhận diện, tổng hợp, đo lường và truyền đạt thông tin kinh tế để giúp cho những người sử dụng các thông tin đó đánh giá và ra quyết định" Tại Điều 4, mục 1, Luật Kế toán được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 cũng giải thích rõ: "Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động".9] Về kế toán quản trị cũng có nhiều quan điểm khác nhau, có thể chia ra thành hai loại quan điểm như sau: - Loại quan điểm thứ nhất: cho rằng kế toán quản trị là việc ghi chép kế toán nhằm thu thập, xử lý, truyền đạt các thông tin chi tiết, cụ thể về các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp phục vụ cho mục đích quản lý và điều hành hoạt động bên trong doanh nghiệp. Theo quan điểm này, kế toán quản trị đồng nghĩa với kế toán chi tiết, có liên hệ mật thiết với kế toán tài chính, ghi chép phản ánh các số liệu chi 5 tiết bao gồm cả chỉ tiêu hiện vật và giá trị nhằm cung cấp các thông tin chi tiết hơn cho các nhà quản lý mà kế toán tài chính chưa cung cấp được. - Loại quan điểm thứ hai: cho rằng kế toán quản trị là hệ thống đo lường, thu thập, tổng hợp và xử lý các thông tin nhằm phục vụ cho nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hoạt động kinh doanh trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp. Ở quan điểm này, kế toán quản trị cũng là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán nhưng có phạm vi rất rộng; các thông tin mà nó thu thập và xử lý không chỉ bao gồm thông tin của kế toán chi tiết mà còn gồm cả thông tin của xây dựng kế hoạch, lập dự toán chi phí, định giá sản phẩm, lựa chọn phương án đầu tư, phân tích kết quả kinh doanh của từng bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp và của toàn doanh nghiệp.
- Theo quan điểm của tác giả, thì kế toán quản trị không đồng nghĩa với kế toán chi tiết, mà với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán; ngoài việc thu thập và xử lý thông tin của kế toán chi tiết kế toán quản trị còn thu thập và xử lý các nguồn thông tin khác như: xây dựng kế hoạch, lập dự toán sản xuất, lựa chọn phương án đầu tư, phân tích kết quả kinh doanh. nhằm phục vụ cho mục đích quản trị doanh nghiệp. Dù có những điểm khác nhau nhưng tựu chung lại cả hai quan điểm trên đều thống nhất rằng: kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán nhằm thu thập, xử lý, truyền đạt các thông tin về tình hình tài sản, nguồn vốn, chi phí và kết quả kinh doanh phục vụ cho việc điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản trị doanh nghiệp. Từ lâu kế toán quản trị được xem như đã tồn tại và phát triển, đó chính là hệ thống thông tin chi tiết của kế toán phục vụ cho việc quản lý doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp phải ứng xử nhiều mối quan hệ với thị trường thì phạm vi cung cấp thông tin của kế toán quản trị không còn hẹp như trước đây mà phải là hệ thống thông tin mới, 6 đầy đủ, đa dạng, linh hoạt và phong phú được quyết định bởi nhu cầu của quản trị doanh nghiệp. Do đó kế toán quản trị đã tách khỏi kế toán tài chính và mở rộng phạm vi, trở thành một bộ phận kế toán có vị trí độc lập nhất định với kế toán tài chính. Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu các cách phân loại chi phí để có thể kiểm soát được, tính toán được giá thành sản phẩm, xác định đúng kết quả kinh doanh của từng loại hoạt động từ đó đề ra các biện pháp quản lý và các quyết định kinh doanh phù hợp. Dần dần cùng với sự phát triển của khoa học quản lý nói chung, khoa học kế toán có những bước phát triển mạnh mẽ; đặt ra yêu cầu nghiên cứu các công cụ kiểm soát và lập kế hoạch, thu nhận và xử lý thông tin phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh.
Từ những quan điểm trên ta có thể rút ra bản chất của kế toán quản trị như sau: Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán, cung cấp thông tin cho nhà quản trị phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý ở tất cả các khâu công việc trong quá trình kinh doanh. Do đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị là các cấp quản lý khác nhau; nhu cầu về các loại thông tin cho các đối tượng này cũng rất khác nhau cho dù họ cùng tiến tới một mục tiêu chung của doanh nghiệp là với những nguồn lực nhất định họ sẽ đạt được hiệu quả cao nhất, vì vậy mà kế toán quản trị có các mục tiêu: - Xây dựng các bảng dự toán trong tương lai. - Tính toán và tổng hợp chi phí sản xuất, tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng khâu công việc. - Kiểm soát việc thực hiện kế hoạch, kiểm tra và đánh giá thường xuyên việc thực hiện kế hoạch bằng phương pháp so sánh giữa số liệu thực hiện với số liệu dự toán; giải trình các nguyên nhân chênh lệch giữa kết quả với mục tiêu đề ra.
7 - Cung cấp thông tin cho Ban giám đốc, Hội đồng quản trị sử dụng để đề ra các chính sách và các quyết định kinh doanh một cách kịp thời. Đối với kế toán quản trị, mô hình doanh nghiệp thể hiện dưới dạng gắn các mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi với nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động và việc tiêu dùng các nguồn lực này (các chi phí kinh doanh). Như vậy mục tiêu chính của kế toán quản trị là liên kết giữa việc tiêu dùng các nguồn lực và nhu cầu tài trợ với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó. Để thực hiện những mục tiêu này, kế toán quản trị phải kiểm tra, giám sát việc sử dụng chi phí, lập dự toán, kiểm tra việc thực hiện định mức chi phí, tính toán hiệu quả kinh doanh.
Trong thực tế, kế toán quản trị phải tính toán, đo lường giá trị, giá thành của từng loại hàng hoá tồn kho, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, từng loại tài sản cố định, xác định chi phí theo từng địa điểm phát sinh của chi phí nhằm tăng cường trách nhiệm vật chất của các bộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp và dự kiến sự biến động trong tương lai. Ngoài ra, kế toán quản trị cần phải tính toán dự báo sự biến động của thị trường để ổn định một chương trình sản xuất và tiêu thụ hợp lý, đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của thị trường. Việc đo lường chi phí cho một hoạt động cụ thể nào đó với mục đích quản trị doanh nghiệp là kết quả cụ thể của kế toán quản trị. Tuy nhiên, nhiệm vụ quan trọng của kế toán quản trị là giúp nhà quản lý có những giải pháp tác động lên các chi phí này, tức là cần xác định nguyên nhân gây ra chi phí để có thể can thiệp, tác động; cần phải tối ưu hóa các mối quan hệ giữa chi phí cho một hoạt động với giá trị mà nó tạo ra nghĩa là quan hệ giữa kết quả hay dịch vụ mà nó mang lại với giá cả mà thị trường có thể trả cho kết quả hay dịch vụ đó.
Tùy theo từng loại hình cụ thể và đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để xác định nội dung, nhiệm vụ cho kế toán quản trị, nhưng về mặt lý luận và thực tế thì kế toán quản trị cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau: 8 - Xác định các chỉ tiêu cần quản lý ở từng khâu công việc của doanh nghiệp. - Thu nhận thông tin theo các chỉ tiêu đã lựa chọn. - Xử lý thông tin và hệ thống hóa thông tin theo yêu cầu của các nhà quản trị. - Cung cấp thông tin.
- Quyết định lựa chọn phương án. Điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị chủ yếu phát sinh từ việc chúng phục vụ cho các đối tượng có mục đích sử dụng thông tin khác nhau. Các căn cứ cơ bản để phân định kế toán quản trị với kế toán tài chính là: - Đối tượng sử dụng thông tin: Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị chủ yếu là những người quản lý của doanh nghiệp, những người trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, kế toán tài chính thường cung cấp thông tin cho những đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp không tham gia trực tiếp điều hành kinh doanh.
Để đưa ra những quyết định khác nhau nhằm mục đích đảm bảo quá trình sản xuất được liên tục với chi phí bỏ ra ít nhất và đạt hiệu quả cao nhất, những nhà quản lý này cần một lượng thông tin rất lớn và khác nhau phù hợp với từng loại quyết định sản xuất. Những thông tin này hoàn toàn khác biệt với những thông tin mà một bảng Báo cáo tài chính cung cấp, nó chỉ nhằm mục đích quản lý quá trình tác nghiệp cụ thể hàng ngày của các nhà quản lý. Cấu trúc phân loại chi phí được dùng trong báo cáo kế toán quản trị thường khác với báo cáo kế toán tài chính. Trong kế toán tài chính, chi phí thường được phân loại theo các chức năng hoạt động của chi phí.