ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm vừa qua, nền kinh tế của nước ta đã đạt được nhiều thành công, các chỉ số như GDP, xuất nhập khẩu, thu chi ngân sách Nhà nước,….đều ở mức cao và khá bền vững. Để đạt được những kết quả trên, không những có sự đóng góp chung của cả nước, các ngành và các cấp mà còn có sự nỗ lực, vươn lên của ngành ngân hàng. Ngân hàng được xem như là “xương sống” của nền kinh tế và sự phát triển của ngân hàng phản ánh rõ nét đời sống kinh tế của xã hội.
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường; là tổ chức cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp. Ở nước đang phát triển như nước ta, thì ngân hàng thương mại có những vai trò rất quan trọng, giữ cho dòng vốn của nền kinh tế được lưu thông và góp phần bôi trơn cho hoạt động của nền kinh tế. Một trong những hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, tạo ra lợi nhuận cao nhất và mang lại nhiều rủi ro là tín dụng ngân hàng. Với khách hàng cá nhân, tín dụng ngân hàng giúp cuộc sống của họ được ổn định và sung túc hơn bằng việc như mua trả góp nhà cửa, xe cộ,.
Với các doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng giúp cho hoạt động của doanh nghiệp hiệu quả và phát triển, đáp ứng nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất,. Trong 3 năm liên tiếp từ 2018 – 2020, tăng trưởng tín dụng ở nước ta thường đạt mức thấp trong quý I. Cụ thể, tăng trưởng tín dụng quý I năm 2018 là 2,23%. Năm 2019, tăng trưởng tín dụng trong quý I đạt 1,9%.
Năm 2020, trước tác động của dịch Covid-19, tăng trưởng tín dụng thấp kỷ lục, chỉ đạt 0,68%. Hiện ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 đối với nền kinh tế không chỉ riêng ở nước ta mà còn cả với thế giới vẫn còn phức tạp, chưa có hồi kết rõ ràng. Với tình hình đó thì các NHTM cần phải triển khai hiệu quả các gói hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp và người dân để kích thích tăng trưởng kinh tế. Để công tác tín dụng của ngân hàng được vận hành có hệ thống và chặt chẽ thì vai trò của kế toán ngân hàng là vô cùng quan trọng.
Công tác kế toán cho vay tại ngân hàng thương mại là công cụ đắc lực trong việc điều hành giám sát các hoạt động tín dụng.Và để hạn chế rủi ro cho ngân hàng trong việc thu gốc và lãi đúng hạn thì đòi hỏi kế toán tín dụng phải theo dõi chặt chẽ các khoản cho vay, thu gốc và lãi kịp iii thời. Thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của kế toán tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng quản lý vốn tín dụng một cách khoa học cũng như đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng và góp phần phát triển nền kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán tín dụng trong hệ thống ngân hàng, đặc biệt trước bối cảnh nền kinh tế đang dần phục hồi sau đại dịch, nên em đã quyết định chọn đề tài “ Kế toán các nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh An Phú – PGD Thảo Điền” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng về công tác kế toán các nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh An Phú – PGD Thảo Điền.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh An Phú – PGD Thảo Điền. Đối tƣợng nghiên cứu - Công tác kế toán nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh An Phú – PGD Thảo Điền. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: chỉ giới hạn trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh An Phú – PGD Thảo Điền. - Về thời gian: đề tài nghiên cứu số liệu về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh trong khoảng thời gian từ năm 2018-2020.
Phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập số liệu: - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập các thông tin liên quan đến đơn vị như hạch toán tài khoản, ghi sổ,. từ các phòng ban của đơn vị. Thu thập các tài liệu liên quan từ Internet, các khóa luận tốt nghiệp Đại học, luận văn Thạc sĩ và từ các sách tham khảo. - Phương pháp quan sát: quan sát các thao tác, quy trình tiến hành nghiệp vụ của nhân viên kế toán và các phòng ban khác của đơn vị.
Phương pháp xử lý số liệu: - Phương pháp thống kê: sử dụng số tuyệt đối, số tương đối để phân tích sự tăng/giảm của các chỉ tiêu. iv - Phương pháp so sánh, đối chiếu: các số liệu đã được thu thập sẽ được đối chiếu với phương hướng đã đề ra để đánh giá việc thực hiện so với kế hoạch mà đơn vị đề ra có đạt hiệu quả hay không. - Phương pháp tổng hợp, phân tích: thông tin và số liệu sau khi được thu thập sẽ được tổng hợp lại tùy theo đặc điểm của nghiệp vụ như thế nào, tiếp đến phân tích và đưa ra kết luận cùng với những giải pháp phù hợp với vấn đề được nghiên cứu để từ đó khắc phục được những nhược điểm và tiếp tục phát huy ưu điểm của đơn vị. v CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Lý luận chung về Ngân hàng Thƣơng mại 1.1 Khái niệm Theo Nghị định số 59/2009/NĐ – CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM có nêu như sau:“ Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.” Tại khoản 3, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng nêu khái niệm Ngân hàng Thương mại:“ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Nói cách khác, ngân hàng thương mại là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn, hút vốn từ nơi dư thừa và bơm vào nơi khan thiếu.
Ngân hàng thương mại đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế trong việc cung cấp nhu cầu vay vốn, tham gia kiểm soát các hoạt động kinh tế, tham gia vào sự ổn định của thị trường tài chính và thị trường chứng khoán ….2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại - Hoạt động huy động nguồn vốn: NHTM huy động vốn qua các hình thức như nhận tiền gửi (tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm), phát hành giấy tờ có giá (như trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi,….) và đi vay từ NHNN, các tổ chức tín dụng khác. - Hoạt động tín dụng: NHTM được cấp tín dụng dưới các hình thức như cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác; bảo lãnh; bao thanh toán;… - Hoạt động đầu tư tài chính: bao gồm góp vốn; mua cổ phần; thành lập các công ty con, công ty liên kết; đầu tư vào các loại chứng khoán nợ trên thị trường;… - Hoạt động khác: NHTM còn được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài các sản phẩm như: ngoại hối; phái sinh về tỉ giá, lãi suất, tiền tệ và tài sản tài chính khác. Bên cạnh đó, NHTM được quyền uỷ thác, 1 nhận uỷ thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lí tài sản theo quy định của NHNN.2 Lý luận chung về hoạt động tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm - Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. - Đối với hoạt động tín dụng ngân hàng, tại khoản 14 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có nêu như sau:“ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.2 Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng - Nguyên tắc thứ nhất: là cho vay phải theo phương hướng mục tiêu, kế hoạch sản xuất kinh doanh của người vay vốn phải có hiệu quả và phù hợp với kế hoạch sản xuất phát triển kinh tế xã hội của Nhà Nước.
- Nguyên tắc thứ hai: là cho vay có giá trị tương đương làm bảo đảm. Nguyên tắc này đòi hỏi các ngân hàng khi cấp tín dụng phải dựa trên cơ sở tài sản thế chấp hợp pháp và có các vật tư có giá trị tương đương. Các giá trị tương đương làm bảo đảm có thể là tài sản cố định, vật tư hàng hoá trong kho hay đang trên đường vận chuyển, các giấy tờ có giá, các quyền về tài sản,… - Nguyên tắc thứ ba: là phải hoàn trả cả gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.3 Thời hạn của tín dụng ngân hàng - Tín dụng ngắn hạn: bao gồm những khoản tín dụng có thời gian trong vòng 12 tháng trở xuống. Mục đích chủ yếu thường là tài trợ vốn lưu động thiếu hụt theo thời vụ cho các doanh nghiệp, những khoản vay tiêu dùng có thời hạn ngắn.
- Tín dụng trung hạn: bao gồm những khoản tín dụng có thời hạn sử dụng tín dụng trên 12 tháng cho đến 60 tháng (5 năm). Mục đích thường là tài trợ cho tài sản cố 2 định, ví dụ mua sắm cải tạo sửa chữa nhà ở, mua máy móc dây chuyền công nghệ trong các doanh nghiệp, bổ sung vốn lưu động thường xuyên,. - Tín dụng dài hạn: mục đích tài trợ tương tự như tín dụng trung hạn, tuy nhiên thời gian sử dụng tín dụng từ trên 5 năm trở lên. Những dự án đầu tư quy mô lớn của doanh nghiệp, các khoản vay mua nhà của cá nhân,.
thuộc dạng này.