Thực trạng kế toán chi phí & giá thành tại Công ty xây dựng Xuân Cương

Nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong ngành xây lắp. Phân tích quy trình và phương pháp áp dụng tại doanh nghiệp.

Trường đại học

Trường Đại học Hoa Lư

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2015

119
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kế toán giá thành xây lắp và vai trò cốt lõi

Kế toán giá thành trong lĩnh vực xây lắp là một công cụ quản lý kinh tế quan trọng, cung cấp thông tin chi tiết về chi phí sản xuất và giá thành của từng công trình, hạng mục công trình. Do đặc điểm ngành xây lắp có chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm mang tính đơn chiếc và cố định tại nơi xây dựng, công tác kế toán trở nên phức tạp hơn so với các ngành sản xuất khác. Việc tổ chức kế toán chi phí xây dựng một cách khoa học không chỉ giúp doanh nghiệp kiểm soát chặt chẽ các khoản mục chi phí mà còn là cơ sở để lập dự toán, báo giá cạnh tranh và đánh giá hiệu quả kinh doanh. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam, mọi chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến quá trình thi công phải được tập hợp đầy đủ và chính xác. Một hệ thống kế toán giá thành hiệu quả phải phản ánh trung thực chi phí về lao động sống và lao động vật hóa, từ đó xác định giá thành sản phẩm xây lắp một cách hợp lý. Điều này đòi hỏi kế toán phải xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí xây lắp và lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp. Mục tiêu cuối cùng là cung cấp số liệu đáng tin cậy cho ban lãnh đạo để đưa ra các quyết định chiến lược, tối ưu hóa lợi nhuận và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường xây dựng đầy biến động.

1.1. Khái niệm và đặc điểm ngành xây lắp ảnh hưởng kế toán

Sản phẩm xây lắp là những công trình, hạng mục công trình được tạo thành bởi sức lao động, vật liệu xây dựng và thiết bị, được liên kết cố định với mặt đất. Ngành xây lắp có những đặc thù riêng biệt: thời gian thi công kéo dài, địa điểm sản xuất không cố định, sản phẩm mang tính đơn chiếc và có giá trị lớn. Những đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến công tác hạch toán giá thành công trình. Kế toán phải theo dõi chi phí theo từng dự án riêng lẻ, thường kéo dài qua nhiều kỳ kế toán. Việc quản lý chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại công trường phức tạp, dễ xảy ra thất thoát. Đồng thời, việc di chuyển máy móc, nhân công giữa các công trình đòi hỏi một cơ chế phân bổ chi phí sản xuất chung linh hoạt và chính xác. Do đó, kế toán giá thành xây lắp không chỉ là việc ghi chép số liệu mà còn là một quy trình kiểm soát và quản lý phức tạp.

1.2. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ mật thiết. Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí phát sinh trong một kỳ nhất định, trong khi giá thành là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng công việc hoặc công trình đã hoàn thành. Mối quan hệ này được thể hiện qua công thức: Tổng Giá Thành Sản Phẩm Hoàn Thành = Chi Phí Dở Dang Đầu Kỳ + Chi Phí Phát Sinh Trong Kỳ - Chi Phí Dở Dang Cuối Kỳ. Công tác tập hợp chi phí xây lắp là tiền đề để tính giá thành. Quản lý tốt chi phí, tiết kiệm các khoản mục hao phí sẽ trực tiếp làm giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Ngược lại, những sai sót trong kế toán giá thành có thể dẫn đến việc định giá sai, ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu và hiệu quả tài chính chung. Do đó, việc xác định chính xác giá trị kế toán công trình dở dang là cực kỳ quan trọng để tính toán đúng giá thành thực tế.

II. Top thách thức sai sót trong kế toán giá thành xây lắp

Thực trạng công tác kế toán giá thành xây lắp tại nhiều doanh nghiệp hiện nay phải đối mặt với không ít thách thức và rủi ro sai sót. Thách thức lớn nhất đến từ việc quản lý và tập hợp chi phí xây lắp một cách chính xác cho từng công trình, đặc biệt là các dự án kéo dài nhiều năm. Việc bóc tách chi phí chung cho nhiều dự án cùng lúc thường gặp khó khăn, dẫn đến việc phân bổ chi phí sản xuất chung không hợp lý, làm sai lệch giá thành của từng hợp đồng. Một sai sót trong kế toán giá thành phổ biến khác là việc hạch toán không nhất quán các khoản chi phí phát sinh, chẳng hạn như chi phí bảo hành công trình hay chi phí lán trại tạm thời. Bên cạnh đó, việc đánh giá và ghi nhận giá trị kế toán công trình dở dang vào cuối kỳ cũng là một điểm nóng. Nếu không có phương pháp đánh giá phù hợp dựa trên mức độ hoàn thành, doanh nghiệp sẽ không thể xác định chính xác giá vốn hàng bán và lợi nhuận trong kỳ. Những thách thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng một quy trình kế toán chặt chẽ và không ngừng hoàn thiện công tác kế toán để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.

2.1. Khó khăn trong việc xác định đối tượng tính giá thành

Việc xác định đối tượng tính giá thành là bước đầu tiên và quan trọng nhất, nhưng cũng là nơi dễ phát sinh vấn đề. Trong ngành xây lắp, đối tượng này có thể là toàn bộ công trình, một hạng mục công trình, hoặc thậm chí là một giai đoạn thi công. Nghiên cứu tại Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Xuân Cương cho thấy doanh nghiệp thường xác định đối tượng theo từng công trình hoặc hạng mục. Tuy nhiên, đối với các dự án phức hợp, việc không phân định rõ ràng các đối tượng ngay từ đầu dẫn đến chi phí bị tập hợp chung, gây khó khăn cho việc bóc tách và tính toán giá thành riêng lẻ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc quyết toán công trình xây dựng và phân tích hiệu quả của từng hợp đồng.

2.2. Phức tạp khi phân bổ chi phí sản xuất chung và máy thi công

Chi phí sản xuất chung (lương quản lý đội, khấu hao thiết bị dùng chung,...) và chi phí sử dụng máy thi công thường phát sinh liên quan đến nhiều công trình. Việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung và chi phí máy móc một cách hợp lý là một bài toán khó. Các tiêu thức phổ biến như phân bổ theo chi phí nhân công trực tiếp hoặc giờ máy hoạt động đôi khi không phản ánh đúng mức độ tiêu hao nguồn lực thực tế cho từng công trình. Phân bổ sai có thể làm giá thành của một công trình bị đội lên một cách vô lý, trong khi giá thành của công trình khác lại thấp hơn thực tế, dẫn đến các quyết định kinh doanh sai lầm.

2.3. Vấn đề đánh giá kế toán công trình dở dang cuối kỳ

Do chu kỳ sản xuất dài, cuối mỗi kỳ kế toán luôn tồn tại các công trình chưa hoàn thành. Giá trị của các công trình dở dang này cần được xác định để tính giá thành sản phẩm đã hoàn tất. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang phổ biến là dựa trên chi phí thực tế phát sinh hoặc theo tỷ lệ hoàn thành ước tính. Tuy nhiên, việc ước tính tỷ lệ hoàn thành thường mang tính chủ quan, phụ thuộc nhiều vào bộ phận kỹ thuật, dễ gây ra sai số. Việc xác định không chính xác giá trị dở dang cuối kỳ sẽ làm sai lệch giá vốn và lợi nhuận được ghi nhận, ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

III. Phương pháp tập hợp chi phí xây lắp theo quy định hiện hành

Để tính toán giá thành chính xác, việc tập hợp chi phí xây lắp phải được thực hiện một cách có hệ thống và tuân thủ các quy định kế toán. Theo Thông tư 200 về kế toán xây dựng và các chuẩn mực liên quan, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp được phân loại và hạch toán vào các khoản mục chính. Toàn bộ chi phí này thường được tập hợp trên tài khoản 154 trong xây dựng (Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang), mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình. Phương pháp tập hợp chủ yếu là phương pháp trực tiếp, tức là các chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến công trình nào sẽ được hạch toán thẳng cho công trình đó. Đối với các chi phí chung, doanh nghiệp sẽ áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp dựa trên các tiêu thức lựa chọn trước. Quy trình này đòi hỏi hệ thống chứng từ ban đầu (phiếu xuất kho, bảng chấm công, hóa đơn) phải đầy đủ, rõ ràng và được luân chuyển một cách khoa học. Việc hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí là nền tảng vững chắc để kiểm soát ngân sách và tính giá thành hiệu quả.

3.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp CPNVLTT

Đây là khoản mục chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị vật liệu chính (sắt, thép, xi măng) và vật liệu phụ sử dụng trực tiếp cho công trình. Kế toán căn cứ vào Phiếu xuất kho hoặc hóa đơn mua hàng giao thẳng đến công trường để hạch toán. Giá trị vật tư xuất dùng được ghi Nợ TK 154 (chi tiết theo công trình) và Có các tài khoản liên quan như TK 152, 111, 112, 331. Việc quản lý chặt chẽ định mức tiêu hao và kiểm soát vật tư tại công trường giúp giảm thiểu lãng phí, góp phần hạ giá thành sản phẩm.

3.2. Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp và chi phí máy thi công

Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, phụ cấp của công nhân trực tiếp thi công. Chi phí này được tập hợp dựa trên Bảng chấm công, Bảng thanh toán lương và hạch toán vào Nợ TK 154. Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm chi phí khấu hao máy, chi phí nhiên liệu, lương công nhân điều khiển máy. Tùy thuộc vào việc doanh nghiệp tự tổ chức đội máy hay đi thuê ngoài, cách hạch toán sẽ khác nhau nhưng cuối cùng đều được tập hợp vào Nợ TK 154 của công trình sử dụng. Đối với máy móc dùng chung, chi phí sẽ được phân bổ vào cuối kỳ.

3.3. Kỹ thuật phân bổ chi phí sản xuất chung CPSXC hiệu quả

Chi phí sản xuất chung là các chi phí phục vụ hoạt động của đội thi công như lương nhân viên quản lý đội, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài... Các chi phí này được tập hợp riêng, sau đó vào cuối kỳ, kế toán sẽ tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng công trình. Tiêu thức phân bổ cần được lựa chọn cẩn thận để đảm bảo tính hợp lý, ví dụ như phân bổ theo tỷ lệ với chi phí nhân công trực tiếp, chi phí vật liệu trực tiếp hoặc theo giờ công lao động. Việc lựa chọn tiêu thức phù hợp giúp giá thành công trình phản ánh chính xác hơn nguồn lực đã tiêu thụ.

IV. Hướng dẫn các phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp

Sau khi đã tập hợp đầy đủ chi phí, bước tiếp theo là tính giá thành cho các sản phẩm xây lắp hoàn thành. Việc lựa chọn phương pháp tính giá thành phụ thuộc vào đối tượng tính giá thành và đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp. Trong ngành xây lắp, do sản phẩm mang tính đơn chiếc, phương pháp được áp dụng phổ biến nhất là phương pháp giản đơn (trực tiếp). Theo phương pháp này, giá thành của một công trình chính là tổng chi phí sản xuất đã tập hợp được cho công trình đó sau khi trừ đi các khoản ghi giảm (phế liệu thu hồi) và điều chỉnh với giá trị dở dang đầu kỳ và cuối kỳ. Quá trình tính toán được thực hiện trên "Thẻ tính giá thành" hoặc "Bảng tổng hợp giá thành", cung cấp cái nhìn chi tiết về cơ cấu chi phí. Việc áp dụng đúng phương pháp tính giá thành đảm bảo cho việc nghiệm thu công trìnhquyết toán công trình xây dựng diễn ra thuận lợi, đồng thời cung cấp dữ liệu tin cậy để phân tích lợi nhuận.

4.1. Phương pháp giản đơn trực tiếp cho từng hạng mục công trình

Phương pháp này được áp dụng khi đối tượng tập hợp chi phí trùng với đối tượng tính giá thành, tức là mỗi công trình hoặc hạng mục công trình. Công thức tính rất đơn giản: Giá thành thực tế = Tổng chi phí phát sinh cho công trình. Trong trường hợp có sản phẩm dở dang, công thức sẽ được điều chỉnh: Giá thành hoàn thành = Chi phí dở dang đầu kỳ + Chi phí phát sinh trong kỳ - Chi phí dở dang cuối kỳ. Đây là phương pháp cốt lõi trong hạch toán giá thành công trình, phù hợp với bản chất sản xuất theo từng dự án riêng lẻ của ngành xây dựng.

4.2. Xác định kỳ tính giá thành và thời điểm nghiệm thu công trình

Kỳ tính giá thành trong xây lắp không cố định theo tháng hay quý như các ngành khác. Thông thường, kỳ tính giá thành là thời điểm công trình, hạng mục công trình hoàn thành và được chủ đầu tư nghiệm thu công trình. Đối với các dự án lớn kéo dài, kỳ tính giá thành có thể là khi hoàn thành một giai đoạn và được chấp nhận thanh toán. Việc xác định đúng kỳ tính giá thành giúp doanh nghiệp ghi nhận doanh thu và giá vốn một cách kịp thời, phản ánh đúng kết quả kinh doanh theo từng giai đoạn.

4.3. Sử dụng tài khoản 154 trong xây dựng để kết chuyển giá vốn

Tài khoản 154 trong xây dựng đóng vai trò trung tâm trong quá trình tính giá thành. Mọi chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được ghi vào bên Nợ của TK 154. Khi công trình hoàn thành và bàn giao, giá thành thực tế của công trình đó sẽ được kết chuyển từ bên Có của TK 154 sang bên Nợ của TK 632 - Giá vốn hàng bán. Số dư cuối kỳ của TK 154 thể hiện giá trị của các công trình dở dang. Nắm vững cách sử dụng tài khoản này là yêu cầu cơ bản đối với kế toán xây lắp.

V. Phân tích thực trạng kế toán giá thành tại doanh nghiệp

Để có cái nhìn thực tế về công tác kế toán giá thành xây lắp, việc phân tích mô hình tại một doanh nghiệp cụ thể là cần thiết. Nghiên cứu của Bùi Thị Trang (2015) tại Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Xuân Cương đã chỉ ra một bức tranh điển hình. Tại đây, công tác kế toán đã bám sát các quy định chung, tuy nhiên vẫn còn một số điểm cần hoàn thiện công tác kế toán. Công ty đã xác định rõ đối tượng tập hợp chi phí xây lắp là từng công trình, hạng mục công trình, tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi và quản lý. Tuy nhiên, việc áp dụng tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung và chi phí máy thi công đôi khi còn mang tính ước lệ, chưa phản ánh đầy đủ bản chất phát sinh chi phí. Bên cạnh những ưu điểm về tổ chức chứng từ và sổ sách, nghiên cứu cũng chỉ ra một số tồn tại như việc đánh giá sản phẩm dở dang còn dựa nhiều vào kinh nghiệm. Phân tích thực trạng này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp cải tiến, giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị chi phí.

5.1. Quy trình tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Xuân Cương

Theo tài liệu nghiên cứu, Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Xuân Cương tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình tập trung. Mọi hoạt động kế toán đều được xử lý tại phòng kế toán trung tâm. Công ty áp dụng hình thức kế toán "Chứng từ ghi sổ" và tuân thủ chế độ kế toán theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC (tại thời điểm nghiên cứu). Việc tổ chức này giúp đảm bảo tính nhất quán và dễ kiểm soát trong việc hạch toán giá thành công trình. Hệ thống sổ sách được mở chi tiết cho từng đối tượng, đặc biệt là sổ chi tiết tài khoản 154 cho mỗi công trình, giúp theo dõi chặt chẽ chi phí phát sinh.

5.2. Thực tế hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp

Thực tế tại Xuân Cương cho thấy, công ty đã thực hiện tốt việc tập hợp chi phí xây lắp trực tiếp như chi phí nguyên vật liệu trực tiếpchi phí nhân công trực tiếp cho từng công trình. Các chứng từ như phiếu xuất kho, bảng chấm công đều ghi rõ công trình sử dụng. Tuy nhiên, đối với chi phí sản xuất chung, công ty thường phân bổ dựa trên chi phí nhân công trực tiếp, một tiêu thức có thể chưa phải là tối ưu nhất. Phương pháp tính giá thành được áp dụng là phương pháp giản đơn, phù hợp với mô hình hoạt động. Khi công trình hoàn thành nghiệm thu, kế toán lập thẻ tính giá thành để tổng hợp chi phí và xác định giá vốn.

5.3. Đánh giá ưu điểm và tồn tại cần hoàn thiện công tác kế toán

Ưu điểm nổi bật là hệ thống sổ sách, chứng từ được tổ chức tương đối khoa học, tuân thủ quy định. Việc xác định đối tượng tính giá thành rõ ràng là một điểm cộng. Tuy nhiên, tồn tại chính nằm ở khâu phân bổ chi phí gián tiếp và đánh giá sản phẩm dở dang. Các tiêu thức phân bổ chưa đa dạng và việc đánh giá dở dang còn thiếu một cơ sở định lượng vững chắc. Đây là những điểm mà doanh nghiệp cần tập trung để hoàn thiện công tác kế toán, qua đó nâng cao độ chính xác của thông tin giá thành và hiệu quả quản trị.

VI. Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán giá thành xây lắp

Dựa trên những phân tích về thực trạng và thách thức, việc đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán giá thành xây lắp là vô cùng cần thiết. Mục tiêu chính là nâng cao tính chính xác, kịp thời và minh bạch của thông tin kế toán, phục vụ hiệu quả cho công tác quản trị doanh nghiệp. Các giải pháp cần tập trung vào việc cải tiến quy trình từ khâu tập hợp chi phí xây lắp đến khâu tính giá thành và quyết toán công trình xây dựng. Một trong những giải pháp quan trọng là xây dựng hệ thống định mức chi phí khoa học và áp dụng các tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung linh hoạt hơn, phù hợp với bản chất từng loại chi phí. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phần mềm kế toán chuyên dụng cho ngành xây dựng sẽ giúp tự động hóa nhiều quy trình, giảm thiểu sai sót trong kế toán giá thành và cung cấp báo cáo quản trị nhanh chóng. Sự đầu tư vào việc đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ kế toán cũng là yếu tố then chốt để triển khai thành công các giải pháp cải tiến.

6.1. Xây dựng định mức và tối ưu hóa việc quản lý chi phí

Để kiểm soát chi phí hiệu quả, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống định mức tiêu hao vật tư, nhân công và máy thi công cho từng loại công việc. Hệ thống định mức này là cơ sở để lập dự toán và là thước đo để so sánh, phát hiện các chênh lệch bất thường trong quá trình thi công. Việc phân tích và kiểm soát chi phí theo định mức giúp ban lãnh đạo có biện pháp điều chỉnh kịp thời, tránh lãng phí và thất thoát, góp phần trực tiếp vào việc hạ giá thành sản phẩm xây lắp.

6.2. Cải tiến phương pháp phân bổ và đánh giá công trình dở dang

Doanh nghiệp nên xem xét áp dụng nhiều tiêu thức phân bổ khác nhau cho từng loại chi phí sản xuất chung. Ví dụ, chi phí quản lý đội có thể phân bổ theo nhân công, trong khi chi phí máy móc chung có thể phân bổ theo giờ máy. Đối với kế toán công trình dở dang, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa phòng kế toán và bộ phận kỹ thuật để xác định tỷ lệ hoàn thành một cách khách quan, dựa trên khối lượng công việc thực tế đã thực hiện so với tổng thiết kế. Việc này giúp tăng độ tin cậy của báo cáo tài chính.

6.3. Ứng dụng công nghệ và phần mềm vào quy trình kế toán

Đầu tư vào phần mềm kế toán chuyên dụng cho ngành xây dựng là một giải pháp mang tính chiến lược. Các phần mềm này cho phép quản lý chi phí theo từng dự án, hạng mục, tự động hóa việc phân bổ chi phí và tính giá thành. Công nghệ giúp giảm thiểu công việc thủ công, hạn chế sai sót và cung cấp các báo cáo phân tích đa chiều một cách nhanh chóng. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ giúp hoàn thiện công tác kế toán mà còn nâng cao năng lực quản trị tổng thể, giúp doanh nghiệp đưa ra các quyết định chính xác hơn trong môi trường cạnh tranh.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP.1 Tổng quan về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.1 Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.1 Khái niệm chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp. Sản phẩm xây lắp là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được lien kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Sản phẩm xây lắp bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác.

Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu thành nên giá thành của sản phẩm xây lắp. Thực chất, chi phí sản xuất là sự dịch chuyển vốn, dịch chuyển các yếu tố sản xuất vào đối tượng tính giá thành. Về mặt lượng, chi phí sản xuất phụ thuộc vào hai yếu tố: − Khối lượng sức lao động và tư liệu sản xuất được chia ra trong một thời kỳ nhất định. − Giá cả tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiền lương của một đơn vị lao động đã hao phí.2 Phân loại chi phí sản xuất xây lắp.

Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm nhiều loại nội dung, tiêu chuẩn kinh tế cũng như mục đích, công dụng khác nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, kế toán đối với các loại chi phí cũng khác nhau. Để đáp ứng yêu cầu quản lý công tác kế toán phù hợp với từng loại chi phí cần thiết SVTH: Bùi Thị Trang – Lớp D4KTB 5 Khóa luận tốt nghiệp phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo những tiêu thức thích hợp. Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu: a.

Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí. Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp được chia ra thành các loại sau: − Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí của các vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu, giá trị thiết bị kèm theo vật kiến trúc…cần thiết để tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp. − Chi phí nhân công trực tiếp: là các chi phí tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp lương, kể cả khoản hỗ trợ lương của công nhân trực tiếp tham gia xây lắp công trình. Không bao gồm các khoản trích theo tiền lương như KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN của công nhân trực tiếp xây lắp.

− Chi phí sử dụng máy thi công: là chi phí cho các máy thi công nhằm thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy. Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời: + Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công bao gồm: lương chính, lương phụ, phụ cấp lương của công nhân điều khiển máy, phục vụ máy…; chi phí vật liệu; chi phí CCDC; chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí bằng tiền khác. + Chi phí tạm thời sử dụng máy thi công bao gồm: chi phí sửa chữa lớn máy thi công (đại tu, trung tu…); chi phí công trình tạm thời cho máy thi công (lều, lán, bệ, đường ray chạy máy…). − Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sản xuất của đội, công trường xây dựng bao gồm: + Chi phí nhân viên: gồm lương nhân viên quản lý đội, các khoản KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN trích trên tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, xây lắp, nhân viên quản lý đội công nhân điều khiển máy thi công.

SVTH: Bùi Thị Trang – Lớp D4KTB 6 Khóa luận tốt nghiệp + Chi phí vật liệu: gòm các chi phí vật liệu sử dụng chung như vật liệu dung để sửa chữa bảo dưỡng TSCĐ, vật liệu văn phòng và những vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung ở các phân xưởng, đội sản xuất… + Chi phí dụng cụ sản xuất: gồm các chi phí về công cụ, dụng cụ dùng cho nhu cầu sản xuất chung ở các phân xưởng, đội sản xuất như khuôn mẫu dụng cụ gá lắp, dụng cụ cầm tay, dụng cụ bảo hộ lao động,… + Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm những chi phí về lao vụ, dịch vụ mua ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở các phân xưởng như chi phí điện nước, chi phí điện thoại, fax, chi phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài,… Cách phân loại này vừa là cơ sở để xác định giá thành công trình, vừa được sử dụng để phân tích tình hình tài chính, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí (yếu tố chi phí) Theo cách này, những chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế thì được xếp vào một yếu tố chi phí, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực nào, ở đâu. Trong kỳ, toàn bộ chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp được chia thành các yếu tố sau: − Yếu tố chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí về đối tượng lao động như gạch, đá, vôi, xi măng, săt thép,…mà doanh nghiệp đã thực sự sử dụng cho hoạt động xây lắp. − Yếu tố chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ số tiền công, tiền lương phải trả và các khoản tiền trích theo lương của công nhân sản xuất trong doanh nghiệp.

− Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm toàn bộ số khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn của các loại TSCĐ trong doanh nghiệp xây lắp. − Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã chi trả về các loại dịch vụ mua ngoài cho sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp như chi phí thuê máy, chi phí điện nước, điện thoại… phục vụ cho hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp. SVTH: Bùi Thị Trang – Lớp D4KTB 7 Khóa luận tốt nghiệp − Yếu tố chi phí khác bằng tiền: là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình thi công xây dựng ngoài bốn yếu tố chi phí trên.2 Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.1 Khái niệm giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp. Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ những chi phí về lao động sống, lao động vật hóa, các chi phí khác bằng tiền mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình theo quy định.

Giá thành là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất cũng như kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất nhằm sản xuất được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí tiết kiệm nhất và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Giá thành còn là căn cứ để xác định hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp. Phân loại giá thành theo thời điểm và cơ sở số liệu tính giá thành sản phẩm xây lắp. Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được phân thành các loại sau: − Giá thành dự toán là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình và được xác định theo công thức sau: Giá thành dự toán = chi phí trực tiếp + chi phí chung Giá thành dự toán được xác định theo định mức và khung giá quy định áp dụng cho từng vùng lãnh thổ.

Giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán công trình ở phần thu nhập chịu thuế tính trước (thu nhập chịu thuế tính trước được tính theo tỷ lệ quy định của Nhà nước). − Giá thành kế hoạch là giá thành xác định xuất phát từ những điều kiện cụ thể ở mỗi đơn vị xây lắp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức, đơn giá áp dụng trong đơn vị. Mối liên hệ giữa giá thành kế hoạch và giá thành dự toán: Giá thành = Giá thành − Mức hạ giá + Chênh lệch kế hoạch dự toán thành dự toán định mức SVTH: Bùi Thị Trang – Lớp D4KTB 8 Khóa luận tốt nghiệp Giá thành kế hoạch cho phép tính toán các chi phí phát sinh sao cho chi phí sản xuất thực tế không vượt quá tổng CPSX dự kiến trong kế hoạch. Giá thành kế hoạch phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp.

− Giá thành thực tế là toàn bộ các chi phí thực tế phát sinh để hoàn thành bàn giao khối lượng xây, lắp mà đơn vị đã nhận thầu, giá thành thực tế được xác định theo số liệu kế toán. Giá thành thực tế không chỉ bao gồm những chi phí phát sinh trong định mức mà còn bao gồm cả những chi phí thực tế phát sinh như mất mát, hao hụt vật tư, thiệt hại về phá đi làm lại,… Để có thể đánh giá chính xác chất lượng hoạt động sản xuất phải đặt giá thành thực tế trong mối quan hệ thống nhất và có thể so sánh được với giá thành dự toán và giá thành kế hoạch. Về mặt lượng, doanh nghiệp nên đảm bảo cho: Giá thành dự toán ≥ Giá thành kế hoạch ≥ Giá thành thực tế Cách phân loại giá thành sản xuất theo 3 loại giá thành trên có tác dụng quản lý và giám sát chi phí, xác định được nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.

Phân loại giá thành theo mức độ hoàn thành khối lượng xây lắp. Căn cứ vào mức độ hoàn thành khối lượng xây lắp, giá thành sản phẩm được chi thành các loại sau: − Giá thành khối lượng xây lắp hoàn chỉnh: là giá thành sản xuất của CT, HMCT đã hoàn thành đảm bảo chất lượng kỹ thuật, đúng thiết kế và hợp đồng bàn giao được bên chủ đầu tư nghiệm thu thanh toán hoặcchấp nhận thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu quả sản xuất thi công cho một công trình, HMCT. Tuy nhiên, chỉ tiêu này có nhược điểm không đáp ứng được các só liệu kịp thời cho quản lý CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong thời kỳ công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây lắp chưa hoàn thành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ