Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp; Chương 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Mỹ Yên; Chương 3: Kết luận và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Mỹ Yên. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và phân loại doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh 1. Khái niệm và phân loại doanh thu 1.
Khái niệm doanh thu Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 18- Doanh thu thì “DT là dòng tiền đầu vào mà DN thu đƣợc trong quá trình hoạt động (dòng tiền dẫn đến sự gia tăng vốn chủ sở hữu hoặc ảnh hƣởng đến sự đóng góp của vốn chủ sở hữu)”. Theo CMKT Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung” (Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trƣởng BTC) thì DT đƣợc hiểu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu đƣợc trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động SX, kinh doanh thông thƣờng và các hoạt động khác của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu. Theo CMKT Việt Nam số 14 “Doanh thu và TN khác” (Ban hành kèm theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của BTC về việc ban hành và công bố bốn CMKT Việt Nam (đợt 1)): “DT là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu đƣợc trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động SX, kinh doanh thông thƣờng của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Theo thông tƣ 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của BTC về Hƣớng dẫn chế độ kế toán DN thì DT đƣợc hiểu là lợi ích kinh tế thu đƣợc làm tăng vốn chủ sở hữu của DN ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông.
DT không bao gồm các khoản thu hộ bên thứ ba. Đối với DN Sản xuất, “DT là tổng các lợi ích kinh tế DN thu đƣợc trong kỳ hạch toán, phát sinh từ hoạt động SXKD thông thƣờng của DN góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu” (Ngô Thế Chi, Ngô Thị Thủy (2007), Kế toán tài chính, Nxb Tài chính, Hà Nội). 8 Nhƣ vậy, qua các khái niệm trên DT chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế DN đã thu đƣợc hoặc sẽ thu đƣợc. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của DN sẽ không đƣợc coi là DT.
Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhƣng không là DT. Ngoài ra, khi tìm hiểu về Doanh thu cần quan tâm tới các khái niệm sau: - Doanh thu bán hàng và Cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ Doanh thu bán hàng và Cung cấp dịch vụ của DN trong kì. - Doanh thu bán hàng: là toàn bộ số tiền thu đƣợc, hoặc sẽ thu đƣợc từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh DT nhƣ bán sản phẩm, hàng hoá do Doanh nghiệp sản xuất ra hoặc do DN mua về. - DT thuần: là số chênh lệch giữa Doanh thu bán hàng và Cung cấp dịch vụ với các khoản giảm trừ DT (CKTM, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại).
- Chiết khấu thƣơng mại: Là khoản DN bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lƣợng lớn. - Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho ngƣời mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. - Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lƣợng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. - Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền ngƣời bán giảm trừ cho ngƣời mua, do ngƣời mua thanh toán tiền mua hàng trƣớc thời hạn theo hợp đồng.
- TN khác: Là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra DT. Phân loại doanh thu Doanh thu của hoạt động kinh doanh có nhiều loại khác nhau. vì vậy cần phải phân loại doanh thu theo các tiêu thức khác nhau để phục vụ cho nhà quản trị trong việc ra quyết định. * Phân loại doanh thu theo hoạt động kinh doanh - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là các khoản thu từ bán các sản phẩm dịch vụ.
Thực chất là doanh thu từ các hoạt động kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp. 9 - Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm: tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận đƣợc chia và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp. - Thu nhập khác: là những khoản thu mà doanh nghiệp không dự tính trƣớc đƣợc hoặc có dự tính đến nhƣng ít có khả năng thực hiện, hoặc là những khoản thu không mang tính thƣờng xuyên. Phân loại doanh thu theo cách này giúp nhà quản trị doanh nghiệp xác định đƣợc tỉ trọng của từng loại doanh thu nói chung, doanh thu bán hàng nói riêng.
* Phân loại theo phương thức bán hàng - Doanh thu bán buôn: là các khoản thu đƣợc từ hoạt động bán buôn với khách hàng trong và ngoài nƣớc. - Doanh thu bán lẻ: là các khoản thu đƣợc từ việc thực hiện các hoạt động bán lẻ hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng. - Doanh thu bán đại lý: là các khoản thu đƣợc thông qua một bên thứ ba là trung gian phân phối hàng hóa cho khách hàng, và bên giao đại lý phải trả chi phí hoa hồng cho bên thứ ba (đại lý). Theo cách phân loại này doanh nghiệp xác định đƣợc mức lƣu chuyển thành phẩm theo từng phƣơng thức từ đó xác định đƣợc lƣợng thành phẩm dự trữ cần thiết.
* Phân loại doanh thu theo quan hệ với điểm hòa vốn Doanh thu hòa vốn: là loại doanh thu mà tại đó chi phí cung cấp các dịch vụ cân bằng với doanh thu của chính các dịch vụ đó. Doanh thu an toàn: là mức doanh thu lớn hơn doanh thu hòa vốn hay nói cách khác là mức doanh thu mà doanh nghiệp có đƣợc sau khi bù đắp các khoản chi phí. * Phân theo mối quan hệ với khu vực địa lý Doanh thu hoạt động kinh doanh đƣợc chia thành hai loại đó là doanh thu trong nƣớc và doanh thu ngoài nƣớc. Trong đó doanh thu bán hàng xuất khẩu là Toàn bộ doanh thu của khối lƣợng hàng bán ra thuộc phạm vi xác định là hàng xuất khẩu.
Cách phân loại này giúp nhà quản trị đánh giá đƣợc mức độ hoạt động theo khu vực địa lý, là cơ sở để kế toán mở các tài khoản và các sổ chi tiết doanh t tƣơng ứng, đồng thời là cơ sở đánh giá mức sinh lợi cũng nhƣ mức rủi ro trong kinh doanh của 10 từng khu vực phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính bộ phận của doanh nghiệp theo khu vực địa lý. * Phân theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp Doanh thu hoạt động kinh doanh đƣợc chia thành doanh thu từ bên ngoài và doanh thu nội bộ. Trong đó doanh thu từ bên ngoài là toàn bộ doanh thu của khối lƣợng hàng hóa, dịch vụ bán ra thực tế của doanh nghiệp cho khác hàng hay DT từ các hoạt động đầu tƣ tài chính thu đƣợc ngoài hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp; doanh thu nội bộ là doanh thu của khối lƣợng hàng bán trong nội bộ hay doanh thu từ các hoạt động tài chính thu đƣợc từ hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ các giao dịch giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty. Cách phân loại này giúp cho việc xác định kết quả kinh doanh thực tế của doanh nghiệp trong kỳ, vừa phục vụ cho báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất.
Khái niệm và phân loại chi phí 1.1 Khái niệm chi phí Theo Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB - International Accounting Standards Board) thì “Chi phí là các yếu tố làm giảm các lợi ích kinh tế trong niên độ kế toán dƣới hình thức xuất đi hay giảm giá trị tài sản hay làm phát sinh các khoản nợ, kết quả là giảm nguồn vốn chủ sở hữu mà không do việc phân phối nguồn vốn cho các bên chủ sở hữu”. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam - Chuẩn mực số 01 “chuẩn mực chung” (VAS 01) “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dƣới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo thông tƣ 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của BTC về Hƣớng dẫn chế độ kế toán DN “CP là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, đƣợc ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tƣơng đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tƣơng lai không phân biệt đã chi tiền hay chƣa”. 11 Nhƣ vậy, chi phí đƣợc nhìn nhận nhƣ những khoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thƣờng và các chi phí khác.
Chi phí đƣợc định lƣợng bằng một khoản tiền hoặc tƣơng đƣơng tiền doanh nghiệp chi ra hoặc những khoản phí tổn góp phần làm giảm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhƣng không phải là phân chia vốn hoặc hoàn trả vốn cho cổ đông. Khái niệm chi phí gắn liền với việc sử dụng thƣớc đo tiền tệ để đo lƣờng các phí tổn đã tiêu hao trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí luôn gắn liền với một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt, về mức độ khái quát nhƣng đều thể hiện bản chất của chi phí là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về, có thể thu về dƣới dạng vật chất, định lƣợng nhƣ số lƣợng sản phẩm hoặc thu về dƣới dạng tinh thần hay dịch vụ đƣợc phục vụ.
Phân loại chi phí * Phân loại chi phí theo chức năng của hoạt động kinh doanh Theo cách phân loại này chi phí đƣợc chia thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.