phần mở đầu và kết luận, nội dung đề án gồm có 3 phần: Phần 1. Cơ sở lý thuyết kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp Phần 2. Kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Thiết bị Điện Công nghiệp Phần 3. Các đề xuất và kiến nghị hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Thiết bị Điện Công nghiệp 6 PHẦN 1.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Doanh thu ❖ Khái niệm: Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 - Doanh thu và thu nhập khác ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu” Theo quy định tại Điều 78, Thông tư 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 22/12/2014 định nghĩa: “Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền”.
Như vậy, qua những định nghĩa khác nhau về doanh thu, có thể hiểu rằng doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Doanh thu có vai trò quan trọng, là nguồn bù đắp các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp đồng thời làm tăng vốn chủ sở hữu. Việc hạch toán đúng doanh thu giúp cho doanh nghiệp xác định đúng về kết quả kinh doanh.
❖ Phân loại doanh thu. Doanh thu có thể được phân loại theo nhiều mục đích, yêu cầu khác nhau của kế toán để thuận tiện cho việc quản lý và hạch toán. Có thể thực hiện phân loại doanh thu như sau: (a) Phân loại theo hoạt động kinh doanh, doanh thu được chia thành hai loại: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ bao gồm: doanh thu bán buôn, doanh thu bán lẻ, doanh thu gửi bán đại lý. 7 - Doanh thu hoạt động tài chính: Là toàn bộ doanh thu phát sinh từ hoạt động đầu tư tài chính như tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia.
Cách phân loại này giúp nhà quản trị doanh nghiệp xác định được tỷ trọng của từng loại doanh thu, xác định tổng mức lưu chuyển hàng hoá theo từng loại, từ đó hoạch định được mức luân chuyển hàng hoá, xây dựng mức dự trữ hàng hóa cần thiết, tránh được tình trạng ứ đọng hoặc thiếu hàng gây ảnh hưởng không tốt cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. (b) Phân loại theo phương thức thanh toán tiền hàng doanh thu được chia thành doanh thu thu tiền ngay, doanh thu trả chậm, doanh thu nhận trước. Phân loại theo phương thức thanh toán giúp quản lý rõ ràng việc thu tiền từ khách hàng, dễ dàng theo dõi lượng doanh thu thu được từ các nguồn khác nhau và đảm bảo kiểm soát tốt hơn về tài chính của doanh nghiệp. (c) Phân loại theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp, doanh thu được chia thành - Doanh thu từ bên ngoài: Là toàn bộ doanh thu của khối lượng hàng hoá, dịch vụ bán ra thực tế của doanh cho khách hàng, hay doanh thu từ các hoạt động đầu tư tài chính thu được từ bên ngoài hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp.
- Doanh thu nội bộ: Là doanh thu của khối lượng hàng bán trong hàng hóa, dịch vụ thu từ các hoạt động tài chính thu được từ hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp như các giao dịch giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty. Ngoài các cách phân loại nêu trên, doanh thu còn được phân loại theo nhiều cách khác. Về cơ bản, mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa nhất định đối với công tác quản trị doanh nghiệp. Chi phí ❖ Khái niệm Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế và Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 - Chuẩn mực chung thì “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo quy định tại Điều 82, Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 thì: “Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại 8 thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa”. Các cách phát biểu khác nhau nhưng đều cho thấy bản chất của chi phí là toàn bộ những khoản chi phí làm giăm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán của doanh nghiệp. Chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh, được tài trợ từ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh. ❖ Phân loại: Chi phí có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau như sau: - Phân loại theo yếu tố chi phí: Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia làm 07 yếu tố sau: + Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: bao gôm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, công cụ dụng cụ.
sử dụng vào sản xuất kinh doanh. + Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lượng phải trả cho người lao động. + Yếu tố khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ. + Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phân ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.
+ Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). + Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả lao động. + Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. - Phân loại theo khoản mục chi phí: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phầm, lao vụ, dịch vụ.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất. + Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng đội sản xuất, chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố sau: 9 • Chi phí nhân viên phân xưởng bao gồm chi phí tiền lương, các khoản phải trả, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng và đội sản xuất. • Chi phí vật liệu: bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ quản lý sản xuất. • Chi phí dụng cụ: bao gồm về chi phí công cụ, dụng cụ ở phân xưởng đề phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất.
• Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao cùa TSCĐ thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý sử dụng. • Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xường và đội sản xuất. • Chi phí khác bằng tiền: là các khoản trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục vụ và quản lý và sản xuất ở phân xưởng sản xuất. + Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ loại chi phí này có: chi phí quảng cáo, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng,.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung của toàn doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: Chi phí nhân viên quản lý chi phí vật liệu quản lý, Chi phí đồ dùng văn phòng; khấu hao TSCĐ dùng chung toàn bộ doanh nghiệp; các loại thuế, phí có tính chất chi phí; chi phí tiếp khách, hội nghị. Xác định kết quả kinh doanh ❖ Khái niệm Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 08: “Kết quả từ hoạt động kinh doanh thông thường là kết quả những hoạt động được doanh nghiệp tiến hành với cách là một phần hoạt động kinh doanh của mình và cả những hoạt động liên quan mà doanh nghiệp tham gia”. Theo quy định tại Thông tư 200/2014/TT/BTC của Bộ Tài chính ngày 22/12/2014: “Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng về các hoạt động của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán nhất định hay kết quả kinh doanh là biểu hiện bằng tiền phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của các hoạt động kinh tế đã được thực hiện.
Kết quả kinh doanh được biểu hiện bằng lãi (nếu doanh thu lớn hơn chi phí) hoac lỗ (nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí)”. Như vậy, doanh nghiệp dựa vào thông tin từ kế toán kết quả hoạt động kinh doanh để đánh giá hiệu quả hoạt động của chính doanh nghiệp đó trong một kỳ kế 10 toán. Kế toán kết quả hoạt động kinh doanh có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó có đáng tin cậy hay không phụ thuộc vào việc hạch toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh.