Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần quốc tế khoáng chất công nghiệp Việt Nam. Chương 3: Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần quốc tế khoáng chất công nghiệp Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Những vấn đề cơ bản về doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất 1.
Khái niệm, phân loại và nguyên tắc kế toán doanh thu 1. Khái niệm doanh thu Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ các khoản tiền hoặc tương đương tiền thu được từ hoạt động tiêu thụ thành phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp. Một cách hiểu khác về thành phẩm là những sản phẩm được thuê để gia công, chế biến, hoàn thành. Việc tiêu thụ TP là chuyển quyền sở hữu sản phẩm của doanh nghiệp cho khách hàng, đồng thời DN có quyền thu tiền từ KH.
Việc tiêu thụ TP có thể hiểu theo cách khác là hoạt động bán hàng của DN, chuyển thành phẩm thành tiền thực hiện vòng chu chuyển vốn trong DN, là công đoạn cuối cùng của chu kỳ sản xuất KD và quyết định đến sự tồn tại của DN. Ngoài ra, có rất nhiều các khái niệm về doanh thu khác nhau, dưới đây, tác giả trình bày sơ lược một số khái niệm doanh thu được quy định tại các chuẩn mực kế toán và thông tư của Bộ Tài chính như sau: Khái niệm tại chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 14, doanh thu bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN đã hoặc sẽ thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động SXKD thông thường của DN, làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản thu hộ bên thứ ba (VD: khoản tiền bán hàng đại lý thu hộ) và các khoản góp vốn của các cổ đông. Tại chuẩn mực kế toán VAS số 01 hướng dẫn, quy định về các khoản doanh thu được ghi nhận phát sinh từ các hoạt động kinh doanh thông thường của doanh 8 nghiệp như: doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ, tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia… Tại Điều 78 – Thông tư 200/2014/TT–BTC, cơ bản khái niệm doanh thu tương tự với chuẩn mực kế toán VAS số 14, doanh thu là các lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của DN, ngoại trừ các khoản thu được từ bên thứ ba và phần đóng góp của cổ đông. Trên đây là những khái niệm cơ bản về doanh thu tác giả đã trích sơ lược.
Theo quan điểm cá nhân, tác giả lựa chọn khái niệm về doanh thu tại chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 bởi đây là quy định, hướng dẫn cụ thể mà mọi DN phải tuân thủ. DT là các lợi ích KT phát sinh từ hoạt động SXKD, hay lợi ích từ việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng trong một thời kỳ nhất định. DT bù đắp các chi phí phát sinh đồng thời làm tăng vốn chủ sở hữu trong DN. Như vậy doanh thu là yếu tố vô cùng quan trọng đế đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp cho những nhà đầu tư và người sử dụng thông tin về tình hình tài chính của DN, đánh giá được mức rủi ro và sinh lời trong việc đầu tư hoặc đưa ra các quyết định, hợp lý cho doanh nghiệp hoặc đơn vị mà nhà đầu tư đang quan tâm.
Vậy nên việc xác định rõ bản chất doanh thu và phân loại doanh thu có ý nghĩa rất quan trọng trong DN. Phân loại doanh thu Để thuận tiện cho việc ghi chép của kế toán thì DT có thể được phân theo nhiều loại nhất định. Trong các DN sản xuất, hoạt động sản xuất và kinh thành phẩm là hoạt động chính của công ty, ngoài ra còn một số hoạt động khác ảnh hưởng đến DT của cả DN. Vì vậy cần phân loại theo các tiêu thức khác nhau để theo dõi chặt chẽ các khoản doanh thu, chẳng hạn như: • Theo mối quan hệ trong hệ thống DN (các công ty trong cùng hệ thống của một tổ chức, tổng công ty, tập đoàn): doanh thu bán hàng bao gồm 2 loại: doanh thu nội bộ và doanh thu ngoài.
– Doanh thu nội bộ: là doanh thu bán hàng trong hệ thống tổ chức của DN như tiêu thụ thành phẩm giữa các đơn vị trực thuộc trong tổng công ty, tập đoàn… – Doanh thu ngoài: là doanh thu bán thành phẩm của DN đã bán ra cho KH ngoài phạm vi của một tổ chức DN. 9 Việc phân loại này sẽ giúp doanh nghiệp xác định được kết quả kinh doanh của doanh nghiệp một cách chính xác nhất, cung cấp thông tin kịp thời cho việc lập BCTC hợp nhất mang tính tập đoàn, toàn ngành… • Theo khu vực địa lý Theo cách phân loại này, doanh thu của DN chia thành: doanh thu nội địa và doanh thu quốc tế – Doanh thu nội địa: là các khoản thu được từ việc bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ trong nước. – Doanh thu quốc tế (hay còn gọi là doanh thu bán hàng xuất khẩu): là các khoản thu từ bán hàng và CCDV tới khách hàng ngoài nước. Cách phân loại này giúp nhà quản trị doanh nghiệp xác định mức độ hoạt động theo khu vực địa lý, căn cứ để đánh giá mức sinh lời cũng như rủi ro trong KD của từng khu vực địa lý, đồng thời cung cấp được số liệu phục vụ cho việc lập BCTC của DN.
• Theo nguồn hoạt động: doanh thu được chia thành 3 loại: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (thuộc hoạt động SXKD thông thường), doanh thu hoạt động tài chính và doanh thu khác. – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ tiền thu được từ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ (chưa có thuế GTGT) bao gồm cả phụ thu ngoài mà DN kinh doanh được hưởng. – Doanh thu hoạt động tài chính là khoản thu từ hoạt động liên quan đến các nghiệp vụ đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạn như đầu tư chứng khoán, tiền gửi ngân hàng, đầu tư góp vốn, cho vay, kinh doanh bất động sản… – Thu nhập khác là khoản thu từ những nghiệp vụ không phát sinh thường xuyên trong doanh nghiệp như các nghiệp vụ bồi thường, tiền phạt vi phạm hợp đồng, thanh lý, nhượng bán TSCĐ… • Phân loại doanh thu theo phương thức thanh toán tiền hàng – Doanh thu bán hàng thu tiền ngay: là doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ… đã bán trong kỳ và được khách hàng trả tiền ngay khi phát sinh doanh thu. 10 – Doanh thu bán chịu: là DT của khối lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ… đã bán trong kỳ và đã được ghi nhận là doanh thu.
Tuy nhiên, khách hàng còn nợ tiền hàng. – Doanh thu bán hàng trả góp: là DT của khối lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ… đã bán trong kỳ, khách hàng đã thanh toán một phần tiền hàng hoặc chưa thanh toán. Trong trường hợp này, người mua phải trả hết tiền hàng trong một khoảng thời gian nhất định, phải trả với giá cao hơn giá trả tiền ngay. Cách phân loại này giúp DN xây dựng dự toán về các khoản công nợ, chi phí trong kỳ của DN, giúp DN phân tích, đánh giá khả năng thành toán của khách hàng và là căn cứ để xác định mức dự phòng phải thu khó đòi.
Các nguyên tắc kế toán doanh thu Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả 5 điều kiện sau: (1) DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua; (2) DN không còn nắm giữ quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát HH; (3) Doanh thu mang alaji được xác định tương đối chắc chắn; (4) DN đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; (5) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Theo thông tư 200/2014/TT–BTC tại Điều 78 quy định nguyên tắc kế toán các khoản doanh thu như sau: (1) Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn CSH của DN ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. DT được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền. (2) Doanh thu và chi phí tạo ra khoản DT đó phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp, tuy nhiên có thể xảy ra xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán.
Kế toán viên phải căn cứ vào bản chất và các CMKT để phản ánh giao dịch một cách trung thực, hợp lý. – Một hợp đồng kinh tế có thể bao gồm nhiều giao dịch. Kế toán phải nhận biết các giao dịch để áp dụng các điều kiện ghi nhận doanh thu phù hợp với quy định của CMKT “Doanh thu”. 11 – Doanh thu cần phải được ghi nhận theo bản chất hơn là hình thức hoặc ghi nhận theo tên gọi của giao dịch và phải được phân bổ theo nghĩa vụ cung cấp HH, DV.
– Đối với các giao dịch phát sinh nghĩa vụ của người bán ở hiện tại và tương lai, doanh thu phải được phân bổ theo giá trị hợp lý của từng nghĩa vụ và được ghi nhận khi nghĩa vụ đã thực hiện. (3) Doanh thu, lãi hoặc lỗ chỉ được coi là chưa thực hiện nếu DN có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ trong tương lai (trừ nghĩa vụ bảo hành sản phẩm bình thường) và chưa chắc chắn thu được lợi ích kinh tế; việc phân loại các khoản lãi, lỗ là đã thực hiện hoặc chưa thực hiện không phụ thuộc vào việc dòng tiền đã phát sinh hay chưa. Các khoản lãi, lỗ phát sinh từ việc đánh giá lại TS, NPT không được coi là chưa thực hiện do tại thời điểm đánh giá, DN đã có quyền sở hữu tài sản và có nghĩa vụ đối với các khoản nợ phải trả, chẳng hạn như: Lãi, lỗ do đánh giá lại tài sản góp vốn đầu tư vào DN khác, đánh giá lại các tài sản theo giá trị hợp lý, chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản tiền tệ có gốc ngoại tệ… đều được coi là đã thực hiện.