Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thƣơng mại Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần Đầu tƣ MFO Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần Đầu tƣ MFO 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƢƠNG MẠI VÀ VAI TRÕ CỦA DOANH THU, CHI PHÍ, XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng Nền kinh tế Việt Nam đang trên con đƣờng hội nhập. Việt Nam là thành viên của nhiều hiệp hội kinh tế trên thế giới nhƣ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, Diễn đàn hợp tác kinh tế Á – Âu, Diễn đàn hợp tác châu Á – Thái Bình Dƣơng APEC, Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO.
Các loại hình kinh doanh trong nƣớc ngày càng đa dạng, thích nghi với thời kì hội nhập mới nhƣ sản xuất, xây dựng, xây lắp, thƣơng mại, xuất nhập khẩu. Trong đó các doanh nghiệp thƣơng mại ngày càng phát triển và đóng góp tích cực trong thành quả chung của nền kinh tế. Doanh nghiệp thƣơng mại là những đơn vị kinh doanh đƣợc thành lập với mục đích thực hiện những hoạt động trong kinh doanh thƣơng mại, tổ chức mua bán hàng hóa nhằm mang lại lợi nhuận. Hoạt động thƣơng mại là hoạt động lƣu thông, phân phối hàng hóa trên thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, thực hiện quá trình lƣu chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất, nhập khẩu tới nơi tiêu dùng.
Hoạt động thương mại có đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, hàng hóa đƣợc lƣu chuyển bao gồm hai giai đoạn:mua hàng và bán hàng qua khâu chế biến làm thay đổi hình thái vật chất của hàng hóa. Thứ hai, quá trình lƣu chuyển hàng hóa đƣợc thực hiện theo hai phƣơng thức bán buôn và bán lẻ. Bán buôn là bán hàng cho tổ chức bán lẻ tổ chức sản xuất, kinh doanh dịch vụ hoặc các đơn vị xuất khẩu để tiếp tục quá trình lƣu chuyển của hàng hóa; Bán lẻ là bán hàng cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Bán buôn và bán lẻ hàng hóa có thể thực hiện bằng nhiều hình thức: bán thẳng, bán qua kho trực tiếp, gửi bán qua đơn vị đại lý, bán trả góp, hàng đổi hàng.
8 Thứ ba, thƣơng mại là khâu trung gian, nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng. Hoạt động thƣơng mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thƣơng mại của thƣơng nhân, nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thƣơng nhân với nhau hay giữa thƣơng nhân với các bên có liên quan, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thƣơng mại nhằm mục đích lợi nhuận hay thực hiện chính sách kinh tế xã hội. Kinh doanh thƣơng mại có một số đặc điểm chủ yếu sau: - Về hoạt động: Hoạt động kinh tế cơ bản của kinh doanh thƣơng mại là lƣu chuyển hàng hóa. Lƣu chuyển hàng hóa là sự tổng hợp các hoạt động thuộc các quá trình mua bán, trao đổi và dự trữ hàng hóa.
-Về hàng hóa: Hàng hóa trong kinh doanh thƣơng mại gồm các loại vật tƣ, sản phẩm có hình thái vật chất cụ thể hay không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về với mục đích để bán. - Về tổ chức kinh doanh: Tổ chức kinh doanh thƣơng mại có thể theo nhiều mô hình khác nhau, nhƣ tổ chức công ty bán buôn, bán lẻ, công ty kinh doanh tổng hợp, công ty môi giới, công ty xúc tiến thƣơng mại. Vai trò của doanh nghiêp thương mại trong nền kinh tế: Thứ nhất, doanh nghiệp thƣơng mại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp thƣơng mại liên quan trực tiếp với các mối quan hệ lớn trong xã hội, giữa cung và cầu và cả các loại chi phí sản xuất.
Doanh nghiệp thƣơng mại vừa là cầu nối trung gian giữa ngƣời sản xuất và tiêu dung, vừa điều chỉnh tỷ lệ cân đối trong sự phát triển của các nghành nghề kinh tế và đời sống hàng ngày. Thứ hai, doanh nghiệp thƣơng mại thúc đẩy sản xuất, mở rộng lƣu thông tạo điều kiện không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, tích cực góp phần tăng tích lũy xã hội nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập mau chóng vào nền kinh tế thế giới. Thứ ba, doanh nghiệp thƣơng mại thông qua hoạt động kinh doanh của mình đã làm tốt việc phân phối hàng hóa từ nơi thừa đến nơi thiếu qua đó nâng cao mức 9 hƣởng thụ của ngƣời dân, khi mức sống của ngƣời dân đƣợc tăng lên thì vai trò của doanh nghiệp thƣơng mại càng quan trọng. Thứ tư, doanh nghiệp thƣơng mại mở rộng thị trƣờng, đặc biệt là thị trƣờng nƣớc ngoài thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, đƣa hàng hóa trong nƣớc ra nƣớc ngoài và nhập hàng hóa, thiết bị kỹ thuật.
Vai trò của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp thƣơng mại Doanh thu, chi phí là bộ phận quan trọng trong kế toán doanh nghiệp. Doanh thu là tổng lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu đƣợc trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thƣờng của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ảnh hƣởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình kinh doanh thƣơng mại - dịch vụ, các doanh nghiệp phải bỏ ra một khoản chi phí để mua bán và dự trữ hàng hóa.
Kế toán phải ghi chép đầy đủ, chính xác kịp thời các khoản chi phí bỏ ra. Theo quy định của hệ thống hiện hành, toàn bộ chi phí ở khâu mua hàng đƣợc tính vào trị giá vốn của hàng nhập kho, còn chi phí của quá trình chuẩn bị bán hàng và chi phí của quá trình bán hàng đƣợc ghi chép ở tài khoản riêng. Ngoài ra, các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp cũng đƣợc tập hợp ở tài khoản ''chi phí quản lý doanh nghiệp''. Vì vậy, kế toán phải có nhiệm vụ giám sát kiểm tra chặt chẽ quá trình chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp để làm cơ sở cho việc tính toán chính xác kết quả kinh doanh.
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc tính vào cuối kỳ hạch toán. Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phải đƣợc phân phối công bằng, hợp lý, đúng chế độ hiện hành của Nhà nƣớc và phù hợp với đặc điểm của ngành kinh doanh. Nhiệm vụ của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh bao gồm: - Ghi chép đầy đủ, chính xác doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, đảm bảo hạch toán đúng kỳ phát sinh. - Ghi chép đầy đủ, chính xác chi phí phát sinh trong kỳ cho từng đối tƣợng 10 chịu chi phí, nhằm xác định đúng kết quả kinh doanh.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các dự toán chi phí, tình hình thực hiện kế hoạch lợi nhuận bán hàng, cung cấp dịch vụ và tình hình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nƣớc. - Tổ chức hợp lý và khoa học kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh nhằm cung cấp thông tin kịp thời phục vụ cho lãnh đạo trong quá trình quản trị doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc kết quả cao trong kinh doanh. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH 1. Khái quát chung về doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu 1.
Khái niệm Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14, “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu đƣợc trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thƣờng của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu đƣợc. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không đƣợc coi là doanh thu” [1]. Doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ: là doanh thu từ bán sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào và bán bất động sản đầu tƣ, thực hiện các công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một kỳ hoặc nhiều kỳ kế toán, cung cấp các dịch vụ mà doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.
Doanh thu từ hoạt động tài chính: là các khoản thu phát sinh từ tiền bản quyền, cho các bên khác sử dụng tài sản của doanh nghiệp, tiền lãi từ việc cho vay vốn, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm trả góp, lãi cho thuê tài chính, chênh lệch lãi do bán ngoại tệ, chênh lệch tỉ giá ngoại tệ, chênh lệch lãi chuyển nhƣợng vốn và lợi nhuận đƣợc chia từ việc đầu tƣ ra ngoài doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp, ngoài doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp còn có các khoản thu nhập khác. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14: 11 “Thu nhập khác là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu.” [1] Thu nhập khác bao gồm các khoản thu từ việc thanh lý, nhƣợng bán tài sản cố định, thu tiền bảo hiểm đƣợc bồi thƣờng, các khoản phạt hợp đồng và các khoản thu nhập khác. Các khoản giảm trừ doanh thu: chiết khấu thƣơng mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại.
Các khoản giảm trừ doanh thu là cơ sở để tính doanh thu thuần và xác định kết quả kinh doanh trong kỳ. Các khoản giảm trừ doanh thu càng thấp thì giá trị doanh thu thuần càng cao. Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lƣợng lớn. Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho ngƣời mua hàng do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
Giá trị hàng bán bị trả lại: là khối lƣợng hàng hóa bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.