CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Lý luận chung về ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 1.1 Lý luận chung về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại được định nghĩa tại khoản 3, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 07/VBHN-VPQH ban hành ngày 12/12/2017 có nội dung như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Tại khoản 12, Điều 4 của luật này cũng nêu rõ rằng hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Qua hơn 6 thập kỷ hình thành và phát triển, từ lâu ngân hàng đã trở thành một trong những tổ chức có vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế nước nhà. Theo tính toán dựa trên số liệu của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, tính đến 31/03/2021 với tổng tài sản Có xấp xỉ 11.594 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 84,34% tổng tài sản Có của toàn hệ thống tổ chức tín dụng, cho thấy ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng có quy mô tài sản lớn nhất nước ta hiện nay.
Bên cạnh đó thì về thị phần lẫn về số lượng các ngân hàng lớn nhất hiện nay cũng thuộc về ngân hàng thương mại. Cho dù tại Việt Nam nói riêng hay trên thế giới nói chung, ngân hàng thương mại đều có vai trò rất quan trọng, với vai trò chung là cung cấp các dịch vụ tài chính cho công chúng và doanh nghiệp, giúp đảm bảo sự ổn định về kinh tế, xã hội cùng với việc góp phần giúp tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. 4 Không những vậy, ngân hàng thương mại còn có những chức năng mà các tổ chức tín dụng khác không có như: - Chức năng trung gian tín dụng: Các NHTM nhận tiền gửi từ khách hàng của mình, song song với đó họ sử dụng số tiền này để cho vay. Lúc này NHTM đóng vai trò như một cầu nối kết nối những người có nhu cầu về vốn với những người đang dư thừa vốn.
- Chức năng trung gian thanh toán: Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn, tiện lợi. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
- Chức năng tạo tiền: Chức năng này ra đời trên cơ sở của chức năng tín dụng và chức năng trung gian thanh toán. Các NHTM sử dụng tiền gửi mà họ thu được để cho vay. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM sử dụng số tiền gửi để cho vay, số tiền cho vay đó lại được khách hàng sử dụng để chi trả thanh toán chuyển khoản cho khách hàng khác. Từ khoản tiền gửi ban đầu, thông qua việc cho vay chuyển khoản thì lượng tiền gửi đã tăng lên gấp bội so với ban đầu.
Bên cạnh đó, khi NHTM cung ứng tín dụng bằng chuyển khoản thì nó đã tạo ra một khoản tiền cung ứng, và ngược lại khi thu nợ thì lượng tiền cung ứng sẽ giảm xuống.2 Lý luận chung về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại NHTM 1.1 Khái niệm cho vay và cho vay khách hàng cá nhân Theo khoản 16 điều 4, Luật các tổ chức tín dụng hợp nhất số 07/VBHN- VPQH: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết 5 giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Tài sản bảo đảm: là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với Agribank. TSBĐ có thể là các tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch, quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Luật đất đai. Cầm cố tài sản: là việc một bên chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho Agribank nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với Agribank. Thế chấp tài sản: cũng như cầm cố tài sản, thế chấp cũng dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với Agribank.
Tuy nhiên khác với cầm cố, thế chấp tài sản không chuyển giao tài sản cho Agribank Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm. Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm. Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm Theo khoản 1, Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Các nhóm nợ được phân thành 5 nhóm như sau: - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; 6 - Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; - Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; 7 - Nợ xấu, là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 Các khoản vay cá nhân thường dùng để mua sắm tài sản, chi cho tiêu dùng, các khoản chi tiêu khẩn cấp,… Các khoản này được trả dần hàng tháng, thường là trong vòng vài năm, tùy thuộc vào hoàn cảnh của khách hàng và mức độ tích cực trong việc thanh toán các khoản vay.
Hầu hết các khoản vay cá nhân đều có lãi suất cố định, chỉ trừ một vài trường hợp nhất định mới có sự biến động về lãi suất cho vay của ngân hàng đối với khách hàng, ví dụ như việc do tình hình dịch bệnh, Agribank đã công bố giảm lãi suất với mức giảm 10% so với lãi suất cho vay đang áp dụng đối với dư nợ cho vay ngắn hạn có lãi suất từ 5%/năm trở lên và dư nợ cho vay trung, dài hạn có lãi suất từ 7%/năm trở lên, áp dụng đối với khoản vay tại thời điểm 15-7 kéo dài đến hết ngày 31-12-2021.2 Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân của NHTM - Quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn: So với các khoản vay để phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh thì đa phần các khoản vay của các khách hàng cá nhân đều có quy mô không lớn, nguyên nhân là do giá trị của hàng hóa, sản phẩm tiêu dùng hay phục vụ đời sống đều ở mức vừa phải. Tuy với quy mô khoản vay nhỏ nhưng bù lại, số lượng khách hàng có nhu cầu vốn lại có số lượng rất lớn. - Lãi suất các khoản vay cá nhân ít linh hoạt: Với lãi suất cố định, trừ một số trường hợp cần phải thay đổi lãi suất để phù hợp với hoàn cảnh của khách hàng hay tình hình kinh tế xã hội thì còn lại lãi suất của các khoản vay cá nhân hầu như không thay đổi. Bên cạnh đó các khách hàng cá nhân thường không quá am hiểu về biến động của thị trường lãi suất do đó ít khi lựa chọn lãi suất thả nổi để đi vay.
Do đó có thể nói lãi suất của các khoản vay cá nhân ít linh hoạt. - Chi phí trong việc cho vay cá nhân lớn: Với số lượng khoản vay lớn, công tác quản lý và giám sát các khoản vay từ lúc thẩm định hồ sơ cho tới khi thu hồi nợ tốn rất nhiều công sức, nhân lực và vật lực. Bên cạnh đó, quy mô các khoản vay thường không quá lớn, do đó tỷ lệ chi phí trên doanh thu sẽ càng lớn.